Bộ Y tế ban hành hướng dẫn truyền thông, vận động, giáo dục về dân số

Nhằm triển khai hiệu quả Luật Dân số năm 2025 và tạo sự thống nhất trong công tác truyền thông, vận động, giáo dục về dân số trên phạm vi cả nước. Ngày 28/7/2026, Bộ Y tế ban hành quyết định số 2358/QĐ-BYT Hướng dẫn truyền thông, vận động, giáo dục về dân số. Hướng dẫn được xây dựng trên cơ sở Luật Dân số năm 2025 và các văn bản quy định chi tiết thi hành, nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác dân số trong tình hình mới; Nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cơ quan,  tổ chức và cá nhân; bảo đảm triển khai thống nhất, hiệu quả Luật Dân số và các  văn bản hướng dẫn thi hành; đồng thời phát huy vai trò của truyền thông chính  sách trong tổ chức thi hành pháp luật và huy động sự tham gia của toàn xã hội  đối với công tác dân số.

Theo hướng dẫn, công tác truyền thông, vận động, giáo dục về dân số phải bảo đảm các yêu cầu: chính xác, khoa học, kịp thời, dễ hiểu, thiết thực; thống nhất về nội dung và thông điệp từ Trung ương đến địa phương; phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của từng vùng, từng nhóm đối tượng. Đặc biệt, truyền thông phải lấy người dân làm trung tâm, hướng đến thay đổi nhận thức và hành vi, kết hợp hài hòa giữa các hình thức truyền thông truyền thống với truyền thông hiện đại, tận dụng hiệu quả các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của người dân.

Dưới đây là những nội dung truyền thông, vận động, giáo dục về dân số của Hướng dẫn:

  1. Đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân số

– Quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng thông qua truyền  thông, vận động, giáo dục:

+ Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới.

+ Kết luận số 149-KL/TW ngày 10/4/2025 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh  thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành  Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới.

+ Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

– Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về dân số và các văn bản  hướng dẫn thi hành Luật Dân số. Truyền thông, vận động, giáo dục về các nội dung Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 và các chương trình, đề án  thực hiện Nghị quyết số 137/NQ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ ban hành  Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng  khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới.

– Truyền thông chính sách đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về dân số trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách, nâng cao chất lượng chính sách, góp phần tạo sự đồng thuận xã hội và hiệu quả thi hành pháp  luật sau khi văn bản được ban hành.

  1. Các nội dung truyền thông, vận động, giáo dục chung

2.1. Vai trò của cá nhân, cặp vợ chồng trong việc sinh con để bảo đảm  phát triển bền vững đất nước và hạnh phúc của người dân 

– Tiếp tục thực hiện truyền thông vận động về việc mỗi cá nhân, cặp vợ  chồng quyết định về thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, điều kiện học tập, lao động, thu nhập và nuôi dạy con của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng trên cơ sở bình đẳng. Đẩy mạnh tuyên truyền việc sinh đủ 02 con trước 35 tuổi; lợi ích của việc không kết hôn muộn, không sinh con quá muộn, không sinh ít con đối với phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời tuyên truyền về các yếu tố bất lợi của việc kết hôn quá sớm, sinh con quá sớm, sinh con quá dày đối với nam, nữ thanh niên, các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để nâng cao chất lượng dân số.

– Tuyên truyền các quy định tại Điều 14 Luật Dân số năm 2025; Điều 2,  Điều 3 Nghị định số 168/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định về điều kiện, thủ tục hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai; mức hỗ trợ tài chính và trình tự, thủ tục thực hiện việc hỗ trợ tài chính khi sinh con.

– Truyền thông về hệ lụy khi mức sinh giảm thấp: Mức sinh thấp kéo dài sẽ tác động trực tiếp đến quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đình và ảnh hưởng đến khả năng duy trì quy mô và cơ cấu dân số hợp lý, phát triển nguồn nhân lực và đảm bảo an sinh xã hội trong dài hạn; kéo theo nhiều hệ lụy như thiếu hụt lức lượng lao động, thu hẹp quy mô dân số, đẩy nhanh quá trình già hóa dân số tăng các dòng di cư.

2.2. Quyền và nghĩa vụ của cá nhân, gia đình, người sử dụng lao động; lợi ích của cộng đồng, xã hội và quốc gia trong thực hiện công tác dân số.

– Truyền thông nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ của cá nhân, gia đình, người sử dụng lao động; đồng thời làm rõ lợi ích của cộng đồng, xã hội và quốc gia trong thực hiện công tác dân số. Đề cao tính gương mẫu của cán bộ,  đảng viên trong việc chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật về dân số, tích  cực vận động, khuyến khích các cặp vợ chồng, cá nhân chủ động thực hiện tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn, sàng lọc trước sinh và sơ sinh, không lựa  chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức, sinh con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc, chủ động chuẩn bị cho tuổi già, tạo sức lan tỏa sâu  rộng trong toàn xã hội.

– Vai trò của Nhà nước là cung cấp đầy đủ thông tin khoa học, đồng thời xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ về y tế, việc làm, an sinh xã hội và chăm sóc trẻ em, nhằm tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền sinh con một cách an toàn, chủ động và có trách nhiệm. Hướng dẫn người dân tiếp cận thông  tin chính thống, nâng cao khả năng nhận diện, phòng ngừa thông tin sai sự thật, thông tin chưa được kiểm chứng về công tác dân số trên không gian mạng.

2.3. Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, hệ lụy của việc mất cân bằng giới tính khi sinh 

– Tăng cường truyền thông, giáo dục về các quy định tại Điều 15 Luật Dân số năm 2025 về giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; quy định xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến lựa chọn giới tính thai nhi theo Nghị định số  90/2026/NĐ-CP ngày 30/3/2026 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính  trong lĩnh vực y tế; các quy định của pháp luật về nghiêm cấm lựa chọn giới tính  thai nhi dưới mọi hình thức; nghiêm cấm thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi, trừ trường hợp quy định tại Thông tư số 11/2026/TT-BYT ngày 15/5/2026 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định danh mục các bệnh được thông báo, tiết lộ giới tính thai  nhi để phục vụ chẩn đoán và điều trị; thực trạng, nguyên nhân, hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh đối với sự phát triển bền vững của mỗi địa phương và đất nước.

– Đẩy mạnh truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi về giới và bình đẳng giới, nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình, cộng đồng và xã hội. Nâng cao trách nhiệm của nam giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản và nuôi dạy con, xây dựng gia đình hạnh phúc.

– Khuyến khích, khen thưởng đưa nội dung không trọng nam hơn nữ, không lựa chọn giới tính khi sinh vào hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư.

2.4. Thích ứng với già hóa dân số, chuẩn bị cho tuổi già ngay từ khi còn trẻ

– Nâng cao nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho người cao tuổi tại cộng đồng, các biện pháp thích ứng với già hóa  dân số, chủ động chuẩn bị cho tuổi già, phát triển đa dạng các hình thức chăm  sóc người cao tuổi; hỗ trợ nâng cao năng lực tự chăm sóc và khả năng tham gia  các hoạt động xã hội của người cao tuổi phù hợp mức độ tự chủ, nhu cầu của  từng nhóm người cao tuổi. Khuyến khích người cao tuổi tiếp tục phát huy kinh  nghiệm, tri thức, kỹ năng, tham gia lao động phù hợp, hoạt động xã hội; xây dựng gia đình, cộng đồng và phát triển đất nước.

– Vận động xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện, hạnh phúc, tạo  điều kiện để người cao tuổi tiếp cận thuận lợi các dịch vụ y tế, chăm sóc xã hội,  văn hóa, giáo dục, công nghệ số và giao thông phù hợp.

– Cung cấp kiến thức, hướng dẫn kỹ năng để người cao tuổi duy trì, nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần và chức năng xã hội. Tuyên truyền, vận động, giáo dục về các nội dung chăm sóc người cao tuổi tại nhà, tại cộng đồng theo  hướng dẫn tại Quyết định số 1976/QĐ-BYT ngày 01/7/2026 của Bộ Y tế ban  hành Hướng dẫn chuyên môn về chăm sóc người cao tuổi tại nhà, tại cộng đồng.  Truyền thông nâng cao nhận thức về phòng, chống bạo lực, ngược đãi, lừa đảo  và các hành vi xâm hại người cao tuổi; chăm sóc sức khỏe tinh thần, chống cô  đơn, cô lập xã hội đối với người cao tuổi.

2.5. Khuyến khích người dân chăm sóc sức khỏe phù hợp với từng  nhóm đối tượng; chủ động tiếp cận dịch vụ tư vấn và khám sức khoẻ trước  khi kết hôn; sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh; dự phòng  vô sinh, điều trị vô sinh. Ứng dụng công nghệ số trong chăm sóc sức khỏe  và nâng cao chất lượng dân số

– Truyền thông, vận động, giáo dục sâu rộng về lợi ích của việc tư vấn và  khám sức khỏe trước khi kết hôn; sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh, giúp nam, nữ thanh niên chủ động tầm soát các bệnh di truyền và truyền  nhiễm nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình. Khuyến khích mọi gia đình thực hiện sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh theo danh mục bệnh bẩm sinh  cần sàng lọc trước sinh và sơ sinh của Bộ Y tế.

– Tiếp tục truyền thông, vận động, giáo dục các quy định về cấm tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, hệ lụy của tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống nhằm xóa bỏ nạn tảo hôn và kết hôn cận huyết thống, nhất là tại các vùng sâu, vùng  xa, biên giới, hải đảo; vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đồng thời cảnh báo các hệ lụy nghiêm trọng của việc mang thai và sinh con ở tuổi chưa thành niên đối với sức khỏe của cả mẹ và bé. Ưu tiên cung cấp kiến thức toàn diện về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục cho các nhóm đối tượng đặc thù  như người chưa thành niên, thanh niên và công nhân tại các khu công nghiệp, góp phần dự phòng vô sinh, giảm mang thai ngoài ý muốn, giảm phá thai không  an toàn và nâng cao chất lượng dân số.

2.6. Giáo dục dân số phù hợp trong từng cấp học

– Đổi mới toàn diện nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục về dân số, sức khỏe sinh sản trong và ngoài nhà trường; bảo đảm trang bị cho thế hệ trẻ hệ thống kiến thức và kỹ năng đúng đắn, phù hợp. Đồng thời, lồng ghép phổ biến các quy định pháp luật về dân số, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, trẻ em và các lĩnh vực có liên quan phù hợp với từng cấp học, trình độ đào tạo, góp phần hình thành ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật cho học sinh, sinh  viên ngay từ trong nhà trường.

Thông qua việc ban hành hướng dẫn này, Bộ Y tế kỳ vọng công tác truyền thông, vận động, giáo dục về dân số sẽ được triển khai đồng bộ, hiệu quả trên phạm vi cả nước, góp phần nâng cao nhận thức của người dân, tạo sự đồng thuận xã hội trong thực hiện chính sách dân số và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

MINH CHÂU

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

views Số lượt xem: 11.779

BÀI LIÊN QUAN