Công bố kết quả Điều tra, thu thập thông tin về thực trạng kinh tế-xã hội của 53 dân tộc thiểu số

Ngày 23/12/2025 tại Hà Nội, Cục Thống kê phối hợp với Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) đã tổ chức hội thảo công bố kết quả phân tích chuyên sâu Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ và Điều tra, thu thập thông tin về thực trạng kinh tế-xã hội của 53 dân tộc thiểu số.

Toàn cảnh Hội thảo

Phát biểu khai mạc tại hội thảo, bà Đỗ Thị Ngọc, Phó Cục trưởng Cục Thống kê cho biết các kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thống kê quan trọng phục vụ đánh giá thực trạng và điều chỉnh chính sách phát triển vùng, đô thị, thị trường lao động và phân bố dân cư.

Báo cáo “Những khác biệt về đặc trưng kinh tế xã hội và nghèo đa chiều trẻ em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam,” Cục Thống kê cung cấp phân tích toàn diện về điều kiện sống, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trong các cộng đồng dân tộc thiểu số và mức độ nghèo đa chiều của trẻ em dân tộc thiểu số, đồng thời làm rõ sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm dân tộc và vùng địa lý. Vẫn có sự khác biệt đáng kể về các chỉ số giữa đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) với mức trung bình trên toàn quốc, như tình trạng không biết chữ trên toàn quốc là 3,4% so với 13,9% của đồng bào DTTS; 39% hộ DTTS không sử dụng năng lượng sạch (so với 8% toàn quốc và 2,3% ở dân tộc Kinh); 21,9% hộ DTTS có điều kiện vệ sinh không đảm bảo (so với 5,3% toàn quốc và 2,1% ở dân tộc Kinh)…

Kết quả phân tích cho thấy sự khác biệt chủ yếu xuất phát từ những khó khăn mà đồng bào dân tộc thiểu số đang phải đối mặt, như cơ sở hạ tầng còn hạn chế, điều kiện vệ sinh chưa bảo đảm, trình độ học vấn thấp và tình trạng kết hôn sớm. Các yếu tố bất lợi này không chỉ tồn tại riêng lẻ mà còn chồng lấp, làm gia tăng tình trạng bất lợi đa chiều.

Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò then chốt của giáo dục, đặc biệt là giáo dục trung học đối với trẻ em gái, trong việc giảm nghèo liên thế hệ, giảm tình trạng kết hôn khi chưa đủ 18 tuổi, qua đó khẳng định sự cần thiết của các chính sách can thiệp tổng hợp, linh hoạt và có tính đến đặc thù của từng dân tộc.

Đại biểu trình bày về đặc trưng kinh tế-xã hội và nghèo đa chiều trẻ em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Trình bày Báo cáo “Di cư nội địa Việt Nam giai đoạn 2009-2024,” Cục Thống kê đã tổng hợp và phân tích xu hướng, quy mô, cơ cấu và động lực của di cư nội địa trong 15 năm qua, làm rõ mối liên hệ giữa di cư với thị trường lao động, quá trình đô thị hóa và phân bố dân cư.

Kết quả cho thấy quy mô di cư nội địa có xu hướng giảm trong giai đoạn gần đây, từ mức cao khoảng 6,4 triệu người giai đoạn 2014-2019 xuống còn khoảng 3,8 triệu người giai đoạn 2019-2024.

Di cư thành thị-thành thị chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 70%), cho thấy phần lớn người xuất cư từ khu vực thành thị lựa chọn chuyển đến các thành thị khác để sinh sống. Đồng thời, xu hướng di chuyển ở khoảng cách ngắn ngày càng rõ nét, phản ánh nhu cầu ổn định nơi cư trú và giảm chi phí di chuyển của người di cư.

Tại báo cáo “Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2024-2074,” Cục Thống kê cung cấp bức tranh toàn diện về xu hướng biến đổi quy mô, cơ cấu dân số theo tuổi và giới tính, cũng như sự phân bố dân cư của Việt Nam trong nửa thế kỷ tới, phản ánh quá trình chuyển đổi nhân khẩu học đang diễn ra và có nhiều điểm tương đồng với xu thế trên thế giới. Quy mô dân số Việt Nam vẫn tăng trong các thập kỷ tới nhưng tốc độ tăng có xu hướng giảm và dự kiến đạt đỉnh vào khoảng năm 2059 theo phương án trung bình trước khi chuyển sang giai đoạn tăng chậm hoặc ổn định. Dự kiến đến 2074, dân số Việt Nam theo ba kịch bản về mức sinh thấp (1,45 con/phụ nữ), mức sinh trung bình (1,85 con/phụ nữ), và mức sinh cao (2,01 con/phụ nữ) sẽ tăng thêm tương ứng là 2,5%, 12,7%, và 17,0%, đạt lần lượt là 103,9; 114,2 và 118,5 triệu người.

Thời kỳ cơ cấu dân số vàng dự báo sẽ kết thúc vào năm 2036, thay vào đó là thời kỳ dân số già và và dân số siêu già sẽ ở tương lai không xa với sự gia tăng nhanh của dân số cao tuổi.

Bên cạnh đó, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh kéo dài đến giữa thế kỷ 21 tiếp tục tác động đến cơ cấu giới tính của dân số, trong khi quá trình đô thị hóa vẫn diễn ra nhưng có xu hướng chậm lại khi tỷ lệ dân số thành thị tiệm cận ngưỡng 50%.

Trên cơ sở các xu hướng nhân khẩu học và các kịch bản dự báo, báo cáo đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm giúp Việt Nam chủ động thích ứng với bối cảnh dân số mới, tập trung vào việc tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số và chủ động ứng phó với các hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh. Đây là những yếu tố then chốt góp phần bảo đảm phát triển bền vững nguồn nhân lực và củng cố nền tảng dân số cho tương lai.

Ngoài ra, các đại biểu tham dự hội thảo đã được nghe các tham luận chuyên sâu đến từ các chuyên gia, đại diện của các cơ quan quản lý nhà nước về: Các nội dung cần ưu tiên đối với xây dựng chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, hướng tới phát triển bền vững và bao trùm; các nội dung cần ưu tiên của chính sách dân số; các nội dung cần tập trung của chính sách pháp luật về trẻ em và các nội dung cần ưu tiên của chính sách phát triển kinh tế xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số; các nội dung cần tập trung để bảo đảm di cư an toàn và hiệu quả. Các kết quả nghiên cứu một lần nữa khẳng định vai trò của dữ liệu thống kê và bằng chứng khoa học trong xây dựng chính sách dân số, lao động, an sinh xã hội và phát triển bền vững.

GIA HÂN

views Số lượt xem: 48

BÀI LIÊN QUAN

Hội nghị công chức, viên chức, người lao động Cục Dân số năm 2025

Ngày 30/01/2026, Cục Dân số tổ chức Hội nghị...

Cục Dân số làm việc với Tổ chức Di cư Quốc tế tại Việt Nam

Sáng ngày 28/01/2026, tại Trụ sở Cục Dân số,...