Dân số – nguồn nhân lực của Việt Nam, năm 2024-2025

Từ cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, thế giới chứng kiến sự biến đổi về dân số một cách mạnh mẽ. Cụ thể, tình trạng mức sinh dưới mức thay thế đã xảy ra tại nhiều quốc gia ở châu Âu, Bắc Mỹ, Đông Á, hay như Úc, Singapore, Thái Lan và một số khu vực khác (United Nations, 2019). Tính đến năm 1997, hơn mười quốc gia có tổng tỷ suất sinh dưới 2,1 trẻ em trên một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, chủ yếu ở các nước châu Âu. Tuy nhiên, ngày càng nhiều quốc gia ở châu Á cũng bắt đầu đạt dưới mức sinh này (Lutz, W. 2000). Đối với xu hướng này, các quốc gia phát triển mặc dù đã nỗ lực với nhiều chính sách về sinh, gia đình, trẻ em nhằm khuyến khích sinh đẻ trong bối cảnh già hóa dân số, song mức sinh vẫn chưa có nhiều sự cải thiện.

Riêng đối với Việt Nam, từ 13/34 tỉnh, thành phố đã phản ánh diễn biến về mức sinh thấp đáng chú ý, khi tổng tỷ suất sinh (TFR) năm 2024 chỉ còn 1,91 con/phụ nữ (Cục Dân số, 2024). Báo cáo của Tổng cục Thống kê (2025) cho thấy tổng tỷ suất sinh tiếp tục giảm. Trong đó, hai vùng có mức sinh thấp và thấp hơn mức thay thế đáng báo động là vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long (lần lượt là 1,48 con/phụ nữ và 1,62 con/phụ nữ) (Tổng cục Thống kê, 2025); đặc biệt mức sinh của TP. Hồ Chí Minh chỉ đạt 1,42 con/phụ nữ – thấp nhất cả nước (Cục Dân số, 2024).

So với khu vực Đông Nam Á, tổng tỷ suất sinh của Việt Nam đang thấp hơn TFR trung bình của khu vực (2,0 con/phụ nữ). Cụ thể, TFR của Việt Nam chỉ cao hơn bốn quốc gia trong khu vực, gồm: Brunei (1,9 con/phụ nữ), Philippines (1,9 con/phụ nữ), Thái Lan (1,1 con/phụ nữ) và Singapore (1,0 con/phụ nữ), và thấp hơn các quốc gia còn lại như Đông Timor (3,0 con/phụ nữ), Campuchia (2,7 con/phụ nữ), Lào (2,5 con/phụ nữ), Myanmar (2,4 con/phụ nữ) và Indonesia (2,2 con/phụ nữ) (PRB, 2023). Mức sinh thấp và tiếp tục tăng sẽ dẫn đến sự già hóa của cơ cấu dân số. Điều này đặt ra hàng loạt vấn đề quan trọng, cấp bách cho các quốc gia trong việc duy trì ổn định cơ cấu dân số và phát triển nguồn nhân lực. Hầu hết để giải quyết vấn đề quan trọng, cấp thiết này, các quốc gia đều nhận thức rằng nếu không chỉ dựa vào trách nhiệm của riêng nhà nước mà cần sự tham gia đồng bộ của nhiều phía – bao gồm cộng đồng, gia đình và cá nhân.

Báo cáo tổng kết chính sách này là kết quả từ cuộc khảo sát do Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Nam Bộ (thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) và UBND các tỉnh, thành phố thực hiện vào quý III năm 2024. Mục đích của báo cáo nhằm khu biệt hóa cho vùng, địa phương về chính sách dân số song hành với nguồn nhân lực, đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực cao để thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế – xã hội. Đồng thời, các chính sách nhà nước thay vì kiểm soát hoặc điều chỉnh mức sinh bằng cách đặt áp lực và trách nhiệm lên người dân thì cần hướng đến chính sách cân bằng, tạo dư địa linh hoạt cho địa phương trong việc khuyến khích và/hoặc giảm áp lực sinh con.

CÁC PHÁT HIỆN CHÍNH

1. Người độc thân: Xu hướng không có ý định lập gia đình và sinh con trong tương lai

  • Kết quả khảo sát cho thấy, những người độc thân có xu hướng không mong muốn lập gia đình chiếm 31,4% và không có ý định sinh con chiếm 27,1%.
  • Xu hướng này có sự khác biệt rõ ràng giữa các vùng địa lý, khu vực nông thôn – đô thị, và giữa các nhóm trình độ học vấn.

Hình 1. Xu hướng lập gia đình và sinh con của những người độc thân

Hình 2. Xu hướng lập gia đình và sinh con của những người độc thân chia theo trình độ học vấn

  • Người độc thân có trình độ học vấn cao có xu hướng không lập gia đình và sinh con cao hơn so với nhóm có học vấn thấp. Cụ thể, khi so sánh giữa nhóm sau đại học và nhóm trung học phổ thông, tỷ lệ người sau đại học không lập gia đình và sinh con chiếm 26,5%, trong khi nhóm trung học phổ thông chỉ chiếm 22,9%.
  • Người độc thân ở vùng đô thị có xu hướng không có ý định lập gia đình và sinh con cao hơn so với những người sống ở vùng nông thôn.
    Số liệu khảo sát cho thấy nhóm sống ở khu vực thành thị chiếm 24,6%, trong khi đó nhóm ở vùng nông thôn chỉ chiếm 20,3%.

Hình 3. Xu hướng lập gia đình và sinh con của những người độc thân chia theo khu vực nông thôn – thành thị

  • Đồng thời, có sự khác biệt khá rõ nét giữa các vùng địa lý. Cụ thể, vùng Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ người độc thân không có ý định lập gia đình và sinh con cao nhất (tương ứng 27,4% và 28,7%). Hai vùng có tỷ lệ thấp nhất là Bắc Trung Bộ (15,5%) và Đồng bằng sông Hồng (16,2%).

Hình 4. Xu hướng lập gia đình và sinh con của những người độc thân chia theo vùng địa lý

2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định hoặc mong muốn lập gia đình

  • Với thang đo 5 điểm, kết quả khảo sát cho thấy có bốn yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định hoặc mong muốn lập gia đình, gồm: Thu nhập từ việc làm, điều kiện làm việc, điều kiện nhà ở, tình trạng sức khỏe.

Hình 5. Điểm trung bình của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định/mong muốn lập gia đình chia theo nhóm tuổi

  • Bốn yếu tố này cũng bị chi phối bởi vùng địa lý, dân tộc, độ tuổi và học vấn.
    Nhóm tuổi trẻ, học vấn cao, người Kinh, vùng đồng bằng và khu vực đô thị chịu nhiều áp lực hơn về thu nhập, việc làm, nhà ở và tình trạng sức khỏe trong quyết định hoặc mong muốn lập gia đình.
  • Đây là một trong những bằng chứng quan trọng để đề xuất các chính sách phù hợp hơn cho từng nhóm đối tượng, từng địa phương và vùng cụ thể, thay vì chỉ áp dụng một chính sách phổ quát chung cho tất cả.
    Nên dành dư địa chính sách cho các địa phương, cho phép linh hoạt điều chỉnh chính sách phù hợp với điều kiện, đặc điểm và đặc thù khác biệt của từng vùng, từng nhóm dân cư.

3. Số con kỳ vọng cao hơn số con hiện có: Tín hiệu tích cực cho chính sách dân số và nguồn nhân lực Việt Nam

Hình 6. Số con trung bình hiện có và kỳ vọng của các cặp vợ chồng chia theo giới

Kết quả khảo sát cho thấy số con kỳ vọng của các cặp vợ chồng (2,35 con) cao hơn số con hiện có (1,86 con).

  • Nữ giới có số con kỳ vọng 2,33 con, thấp hơn so với nam giới (2,40 con).
  • Kết quả khảo sát chỉ ra rằng số con hiện có của các cặp vợ chồng giảm dần từ nhóm tuổi cao nhất đến nhóm tuổi thấp nhất.
    Cụ thể, từ 1,98 con ở nhóm 51–60 tuổi giảm xuống còn 1,20 con ở nhóm 18–30 tuổi.
  • Một xu hướng tích cực hơn được ghi nhận khi thấy rằng các cặp vợ chồng trẻ (18–30 tuổi) vẫn kỳ vọng sinh con trong tương lai, với mức trung bình 2,26 con.
  • Kết quả khảo sát cũng chỉ ra rằng số con hiện có và số con kỳ vọng của các cặp vợ chồng có sự khác biệt rõ ràng giữa các vùng địa lý.
    Cụ thể: Số con hiện có của các cặp vợ chồng là 2,01 con ở vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), 1,89 con ở Trung du và miền núi phía Bắc (TD&MNPB), 1,97 con ở Bắc Trung Bộ (BTB), và 1,85 con ở Duyên hải Nam Trung Bộ & Tây Nguyên (DHNTB&TN). Hai vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là những nơi có mức sinh thấp nhất, số con trung bình hiện có của các cặp vợ chồng lần lượt là 1,74 con và 1,61 con.
  • Tương tự, hai vùng ĐNB và ĐBSCL tiếp tục là hai vùng có số con kỳ vọng ở mức thấp nhất. Cụ thể, số con kỳ vọng trung bình của các cặp vợ chồng ở vùng ĐNB là 2,21 con,còn vùng ĐBSCL là 2,11 con, trong khi các vùng còn lại đều kỳ vọng ở mức trên 2,35 con.

4. Thu nhập từ việc làm, điều kiện việc làm, điều kiện nhà ở và tình trạng sức khỏe: Tiếp tục là các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định/mong muốn sinh con

  • Bốn yếu tố này cũng bị chi phối bởi vùng địa lý, độ tuổi và giới tính.
    Các nhóm tuổi trẻ, vùng đồng bằng và giới nữ có nhiều áp lực hơn về thu nhập, việc làm, nhà ở và tình trạng sức khỏe trong quyết định hoặc mong muốn sinh con.

Hình 7. Điểm trung bình của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định/mong muốn sinh con chia theo vùng địa lý

5. Quan điểm về số con và các nhận định quan trọng trong việc phát triển chất lượng nguồn nhân lực của cư dân Việt Nam trong bối cảnh đương đại

  • Để đảm bảo mức sinh kỳ vọng mà mỗi cá nhân quyết định/ mong muốn và dựa trên sự cân bằng lợi ích, phát triển hài hòa giữa gia đình và quốc gia, trong đó mỗi thế hệ trẻ em được sinh ra không chỉ ổn định về mặt số lượng mà còn được tạo điều kiện nuôi dưỡng tốt trong môi trường an toàn và lành mạnh từ gia đình đến xã hội, nghiên cứu này đo lường mức độ đồng ý của người dân với quan điểm, nhận định của các nhóm vấn đề sau:

a. Chính sách hỗ trợ của nhà nước, bao gồm:

  1. Nhà nước miễn phí dịch vụ tư vấn sức khỏe sinh sản, phòng tránh vô sinh cho tất cả nam nữ trong độ tuổi sinh đẻ
  2. Công dân độ tuổi sinh đẻ được khám sức khỏe sinh sản miễn phí
  3. Nam giới cần có chế độ nghỉ 4 tuần khi vợ sinh con
  4. Trợ cấp chế độ thai sản đối với lao động nữ chưa không có bảo hiểm xã hội
  5. Nhà nước có chế độ trợ cấp thai nhi và trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi.

b. Nhận thức của người dân về chiến lược dân số, bao gồm:

  1. Sinh con là đem lại lợi ích cho sự phát triển của quốc gia
  2. Sinh con giúp tránh già hóa dân số nhanh.

c. Đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc tốt khi sinh con thứ ba hoặc nhiều hơn, bao gồm:

  1. Khi đảm bảo đủ các điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con cái tốt mới sinh con hoặc sinh thêm con
  2. Mỗi cặp vợ chồng có thể sinh con thứ ba hoặc nhiều hơn nếu đảm bảo trẻ được nuôi dưỡng an toàn, lành mạnh.
  • Kết quả đo lường với thang điểm 5 cho thấy, để đảm bảo mức sinh tăng và tránh việc mức sinh giảm dưới mức thay thế (hoặc mức sinh thấp kéo dài) như các quốc gia phát triển đã từng trải qua, ý kiến của người dân đều đồng ý với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước ở mức cao nhất (3,82 điểm/5 điểm). Xếp sau đó là nhận thức của người dân về chiến lược dân số (3,47 điểm/5 điểm), và cuối cùng là đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc tốt khi sinh con thứ ba hoặc nhiều hơn (3,40 điểm/5 điểm).
  • Các yếu tố về độ tuổi, giới, dân tộc, học vấn, vùng và khu vực địa lý đều có số điểm đồng ý trên 3,4 điểm/5 điểm, tuy nhiên có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm. Cụ thể: Độ tuổi có mức độ đồng ý cao nhất ở nhóm trẻ nhất và giảm dần ở nhóm tuổi cao hơn. Dù vậy, cả bốn nhóm tuổi đều thống nhất rằng chính sách hỗ trợ của Nhà nước, nhận thức của người dân về chiến lược dân số, và đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc tốt khi sinh con thứ ba hoặc nhiều hơn đều là yếu tố then chốt để duy trì mức sinh hợp lý.
  • Có sự khác biệt về mức độ đồng ý của người dân ở các vùng địa lý khác nhau.
  • Cư dân các vùng đồng bằng có mức độ đồng ý cao hơn so với các vùng còn lại. Đặc biệt, các vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), Đông Nam Bộ (ĐNB) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là những nơi có mức độ đồng ý cao nhất trong tất cả các nhóm vấn đề.
  • Hầu hết các nhóm cư dân đều đồng ý cao với quan điểm về chiến lược dân số, cho rằng sinh con là đem lại lợi ích cho phát triển quốc gia và góp phần làm chậm lại quá trình già hóa dân số. Đây là một tín hiệu khả quan cho việc triển khai các chiến lược dân số trong giai đoạn phát triển hiện nay.

KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH

1. Nhóm độc thân – Không có ý định lập gia đình và sinh con: tạo động lực thúc đẩy cá nhân lập gia đình và sinh con phù hợp cho từng nhóm đối tượng

  • Tăng cường trách nhiệm xã hội đối với những người độc thân không muốn kết hôn và không có ý định sinh con; khuyến khích kết hôn sớm, với các giải pháp cụ thể:
    • Hỗ trợ thu nhập cá nhân đối với người độc thân (quy định độ tuổi cụ thể, chẳng hạn nữ dưới 28 tuổi, nam dưới 30 tuổi) và tăng dần theo tuổi.
    • Tạo điều kiện tiếp cận nhà ở xã hội đối với các cặp vợ chồng kết hôn dưới 28 tuổi (đối với nữ) và dưới 30 tuổi (đối với nam) – ưu tiên nhóm thu nhập thấp, chưa có nhà ở.
    • Chính sách hỗ trợ tài chính khi mua nhà hoặc mua xe máy/ô tô cho các cặp vợ chồng kết hôn dưới 28 tuổi (nữ) và 30 tuổi (nam).
  • Thực hiện thí điểm tại các địa phương có tỷ lệ người trẻ độc thân cao, như: Hồ Chí Minh (tỷ lệ cao nhất nước 29,9%), Cần Thơ (25,1%), các vùng ĐNB và ĐBSCL (khu vực thành thị, nhóm người tốt nghiệp đại học – với tỷ lệ lần lượt 28,7% và 27,4% không có ý định lập gia đình và sinh con). Sau hai năm thí điểm, mở rộng triển khai ra toàn vùng ĐNB và ĐBSCL.
    Về lâu dài, các chính sách này sẽ được điều chỉnh linh hoạt theo điều kiện cụ thể của từng giai đoạn và địa phương.

2. Mức sinh thấp: Can thiệp ứng phó với mức sinh thấp mang tính khả thi, góp phần duy trì vững chắc mức sinh thay thế trên phạm vi cả nước, đặc biệt là phải bảo đảm tỷ suất sinh thay thế phù hợp với từng vùng, từng nhóm dân cư

Hỗ trợ các cặp vợ chồng sau kết hôn và sinh con, thực hiện các chính sách hỗ trợ phù hợp để đảm bảo các điều kiện về thu nhập, việc làm, nhà ở không trở thành áp lực cản trở quyết định sinh con.

Chính sách này cần được tính toán riêng cho từng nhóm đối tượng, như nhóm dân cư ở khu vực đô thị, đồng bằng, học vấn cao hoặc nhóm dân số ở khu vực nông thôn, vùng núi, học vấn thấp, cụ thể:

  • Giảm/miễn thuế thu nhập cá nhân, ngoài việc giảm trừ gia cảnh, áp dụng cho các cặp vợ chồng/cá nhân đang nuôi con dưới 18 tuổi:
    • Có 01 con: giảm 10% thuế thu nhập cá nhân
    • Có 02 con: giảm 20% thuế thu nhập cá nhân
    • Có 03 con: giảm 30% thuế thu nhập cá nhân
    • Có 04 con: giảm 50% thuế thu nhập cá nhân
  • Thí điểm tại hai vùng có mức sinh thấp là ĐNB và ĐBSCL, áp dụng cho các hộ gia đình có thu nhập trung bình trở xuống, tính toán tương ứng với chi phí sinh hoạt trung bình của địa phương.
  • Chính sách về vốn vay và nhà ở xã hội thực hiện theo quy định tại Mục 2.1.
  • Có chính sách về thu nhập và mức lương tối thiểu đủ sống cho gia đình 4 người: Chuyển quy định “mức lương tối thiểu” sang “mức lương đủ sống tối thiểu” cho gia đình 4 người, có nghĩa là hai người đi làm có đủ thu nhập để nuôi dạy và học hành hai con. Chính sách này cần được điều chỉnh phù hợp với từng vùng và địa phương có mức sinh thấp.
  • Điều chỉnh thời gian làm việc của người lao động nhằm giảm áp lực:
    Rút ngắn thời gian làm việc tiêu chuẩn (ví dụ 8 giờ/ngày, 40 giờ/tuần) để người lao động có thời gian chăm sóc con cái, gia đình, tìm bạn đời và nâng cao chất lượng đời sống cá nhân và tinh thần.
  • Chính sách phát triển nguồn nhân lực ở các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp:
    Cần tính đến tiêu chí khuyến khích việc lập gia đình và sinh con, tránh xung đột giữa công việc và trách nhiệm chăm sóc con cái.
    Tạo cơ chế giảm thuế cho doanh nghiệp nếu sử dụng lao động nữ mang thai, lao động có 2 con trở lên hoặc tỷ lệ lao động đang sử dụng thuộc nhóm này cao.
  • Cần thể chế hóa trách nhiệm xã hội của cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp đối với việc chăm sóc đời sống tinh thần cho nhân viên, đào tạo kỹ năng làm cha mẹ, tạo điều kiện sử dụng thời gian linh hoạt cho lao động mang thai, nuôi con nhỏ và lao động có từ 2 con trở lên.

3. Tạo điều kiện thuận lợi cho các cặp vợ chồng, cá nhân quyết định số con/thời gian sinh con trên cơ sở thực hiện tốt trách nhiệm xã hội về công tác dân số và đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng tốt

Chính sách cho vùng có mức sinh thấp (ĐNB và ĐBSCL)

  • Xây dựng các nền tảng xã hội (trực tuyến và trực tiếp) cung cấp dịch vụ tư vấn hôn nhân, gia đình và các vấn đề về kết bạn, hẹn hò, sức khỏe sinh sản.
    Tổ chức miễn phí cho thanh niên, người trẻ mỗi xã, vùng nhằm khuyến khích mô hình hôn nhân tích cực, thúc đẩy xã hội hóa hoạt động tư vấn.
  • Chính sách ưu đãi khi các cặp vợ chồng sinh đủ hoặc hơn hai con (như đã nêu tại Mục 2.2).

Chính sách cho vùng có mức sinh cao (TD&MNPB, ĐBSH, BTB, DHNTB&TN)

  • Ưu tiên các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ được sử dụng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình miễn phí.
  • Truyền thông trách nhiệm gia đình, đặc biệt là vai trò của người vợ và người chồng trong việc nuôi dạy con tốt, góp phần đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực.
  • Lồng ghép truyền thông dân số (học vấn, kinh tế, sức khỏe sinh sản) vào chương trình phát triển nguồn nhân lực địa phương.
  • Tạo mô hình kết hợp gia đình và xã hội nhằm đảm bảo điều kiện nuôi dạy con tốt và bình đẳng.

4. Nâng cao chất lượng dân số gắn liền với chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển

Cần có chính sách hỗ trợ cụ thể liên quan đến tiêu chuẩn sinh con và nuôi con nhỏ, bao gồm:

  • Miễn phí dịch vụ tư vấn sức khỏe sinh sản, phòng tránh vô sinh cho tất cả nam, nữ trong độ tuổi sinh đẻ của cả nước thông qua hệ thống y tế cơ sở.
  • Công dân độ tuổi sinh đẻ được khám sức khỏe sinh sản định kỳ miễn phí.
  • Tạo bình đẳng giới trong sinh con và nuôi dạy con:
    Nam giới cần có chế độ nghỉ 4 tuần khi vợ sinh con, được cơ quan, tổ chức/doanh nghiệp tạo điều kiện nghỉ hoặc làm việc linh hoạt để chăm sóc trẻ dưới 1 tuổi.
  • Trợ cấp cho các gia đình có người lao động nữ chưa/không có bảo hiểm xã hội.
  • Có chế độ trợ cấp thai sản và trẻ em dưới 6 tháng tuổi.
  • Miễn phí cho tất cả các lần khám thai của phụ nữ đối với người thu nhập thấp.

Cần có các chính sách đặc thù cho trẻ em, đặc biệt trẻ trong độ tuổi nhà trẻ, mầm non để đảm bảo phúc lợi cho trẻ em, cụ thể:

  • Xây dựng và phát triển các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc trẻ em ngoài gia đình (dịch vụ chăm sóc trẻ, xây dựng nhà trẻ, trường mầm non tại các khu công nghiệp, khu đô thị giữ trẻ từ 6 tháng tuổi).
  • Hỗ trợ thêm chi phí trông trẻ đối với con thứ hai trở lên cho gia đình thu nhập thấp.
  • Thí điểm, nhân rộng các dịch vụ thân thiện với người lao động như đưa, đón trẻ, trông trẻ, ngân hàng sữa mẹ, bác sỹ gia đình qua việc nâng cao TNXH của cơ quan/DN

Công ty/ cơ quan cần có qui định cụ thể về điều kiện làm việc cho nhân viên trong thời gian đang nuôi con ở độ tuổi mầm non. Chẳng hạn như cần có chế độ lương ưu đãi và giờ làm việc ít hơn.

Để tạo chất lượng dân số: Cần mạnh dạn thực hiện chính sách khuyến khích các cặp vợ chồng có học vấn cao, có điều kiện kinh tế, thành đạt và sính từ 2 con trở lên.

5. Truyền thông về chính sách dân số và thay đổi hành vi sinh sản

Lựa chọn các phương thức, nội dung phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số Đặc biệt, nếu trong điều kiện chưa có khả năng bao quát toàn bộ dần số, có thể dựa vào các tổ chức cơ quan/DN để tác động từng nhóm dân số, trong đó chú trọng nhóm học văn cao trước

  • Xây dưng thông điệp truyền thông dân số với đa dạng các loại hình truyền thông và đấy mạnh phổ biến trong môi trường số (Mạng xã hội, tín nhân ĐT, tài liệu, bảo điện tử)
  • Tăng cường truyền thông về trách nhiệm xã hội, lòng tự hào về hình mẫu gia đình hạnh phúc với đầy đủ con cái nghĩa vụ của công dân đối với gia tăng dân số, giáo dục gia đình bền vững hạnh phúc, vào từng đối tương phù hợp sinh viên, công nhân, lao động trong các khu CN, khu chế xuất, công chức, viên chức, thanh niên, lao động tự do, và tùy theo từng vùng, địa phương có thông điệp đa dạng phù hợp văn hóa bản địa.
  • Sử dụng người có ảnh hướng xã hội đặc biệt giới trẻ để tạo xu hướng (trend), tuyên truyên lợi ích của việc sinh con cho quốc gia và tránh già hóa dân số

Cần thay đổi các thông điệp hay diễn ngôn trước đây đã làm hạn chế mức sinh và không biến các thông điệp trở thành áp lực và trách nhiệm mà cần mang tính chất khuyến khích sinh con hoặc giảm áp lực sinh con, ví dụ:

  • Sinh con mang lại lợi ích quốc gia và tránh già hóa dân số
  • Sinh con vì hạnh phúc của gia đình, thịnh vượng quốc gia
  • Kết hôn và sinh con là lựa chọn hạnh phúc của cá nhân, gia đình
  • Còn cái là niềm vui của cha mẹ, hạnh phúc của gia đình, thịnh vượng của quốc gia 

6. Một số nội dung khác

  • Thực hiện giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ về trách nhiệm xã hội của công dân và lợi ích, tầm quan trong của dân số, nguồn nhân lực phát triển đất nước. Giáo dục phổ thông, chuyên đề trong trường cao đẳng, đại học.
  • Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách phát triển nông thôn mới, phát triển các sản phẩm OCOP hiệu quả để tạo sinh kế, phát triển kinh tế xã hội nông thôn của các địa phương đề tạo điều kiện 1 bộ phận người trẻ an cư, ổn định ở quê hương có điều kiện sinh, nuôi con.
  • Chính sách thân thiện với gia đình: ưu đãi nghỉ phép có lương dành cho cặp vợ chồng có con, ưu đãi tăng lên theo số lương con, khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức thu xếp vị trí công việc có giờ làm việc linh hoạt, làm việc trực tuyến tạo điều kiện cho lao động khi có thai, sinh con, nuôi con nhỏ
  • Chính sách hỗ trợ thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ở Thành phố bên cạnh chính sách khuyến khích trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, trường, viện qua tổ chức chia sẻ chuyên gia phát triển kinh tế xã hội cho các địa phương.
  • Tạo dựng mạng lưới hỗ trợ cộng dòng: nơi các gia đình mở rộng, hàng xóm và tổ chức địa phương giúp chăm sóc trẻ em, giảm bớt gánh nặng cho cặp vợ chồng trẻ (đặc biệt di cư lên TP). Thúc đấy môi trường nuôi dạy con tích cực, hiệu quả.

7. Biện pháp đảm bảo thực thì hiệu quả các giải pháp thực hiện chính sách dân số

Thứ nhất, thực hiện chính sách không ngang bằng đối với dân số không nhất thiết mỗi cặp vợ chồng phải hoặc chỉ có 2 con Tùy điều kiện, hoàn cảnh mỗi gia đình họ có quyền quyết định số con. Chấp nhận thực tế, xu hướng càng đô thị hóa, càng học vẫn cao, càng có điều kiện kinh tế, xã hội càng phát triển thì nguy cơ tỷ lệ sinh giảm. Do đó, một mặt có các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi, song song tạo áp lực về trách nhiệm xã hội qua thuế, tài chính, đối với đối tương cư dân muộn lập gia đình, không sinh hoặc sinh ít con. Bên cạnh đó, khuyến khích, thúc đấy cặp vợ chồng sinh con nhiều hơn 2, hơn 3 để tạo cân đối bù trừ

Thứ hai, thực hiện áp dụng chính sách bản địa hóa bám sát đặc điểm dân số, tỷ suất sinh, các điều kiện ảnh hưởng, đặc thủ địa phương khác nhau tạo dư địa cho chính quyền địa phương sáng tạo chính sách bổ sung phù hợp, hiệu quả.

Thứ ba, linh hoạt trong tổ chức triển khai và sử dụng nhiều công cụ chính sách khác nhau như thuế, ưu đãi vớn, tài chính, nhà ở, cho cập vợ chồng có hai con hoặc hơn, đồng thời cho cả doanh nghiệp, tổ chức có sử dụng lao động mang thai, nuôi con nhỏ, sinh hai con hoặc nhiều hơη

Thứ tư, cần có nhiều chính sách tổng thể, cụ thể từng đôi tượng. Từng loại chính sách căn được cụ thể hóa, chia nhỏ từng phần để đảm bảo phù hợp đối tượng. Phải có sự hỗ trợ khác nhau cho cặp vợ chồng có 2 và nhiều hơn 2 con so với chỉ có 1 con. Để khuyến khích lập gia đình ở tuổi phù hợp để sinh con cần có các hỗ trợ ưu đãi khác nhau theo từng độ tuổi, tuổi phù hợp được hỗ trợ cao nhất, càng cao càng ít hỗ trợ hơn và tỷ lệ nghịch với trách nhiệm xã hội qua công cụ thuế, tài chính

Thứ năm, cần ứng dụng hài hòa, tận dụng tối đa công nghệ số, chuyến đổi số quốc gia, dữ liệu dân cư, mà định danh điện tử để khai thác kênh thông tin và hướng dẫn, tư vấn, tương tác tạo hiệu quả cho thực hiện chính sách dân số ở các địa phương và toàn quốc.

KẾT LUẬN

Các chính sách của nhà nước Việt Nam trong thời gian qua tập trung vào việc kiểm soát sự gia tăng dân số hoặc chủ động kiểm soát và điều chỉnh cơ cấu dân số đã cho thấy xu hướng không còn phù hợp. Kết quả cũng đã minh chứng rằng, diễn ngôn nhà nước về mỗi cặp vợ chông chỉ sinh đủ hai con không còn phù hợp và người dân có quyền quyết định, tự chọn số con mà họ mong muốn. Phát hiện quan trọng của khảo sát cho thấy có tới 31,4% những người độc thân có xu hướng không mong muốn lập gia đình và không có ý định sinh con chiếm 27,1% đây là một hồi chuông báo động lớn bởi hướng này sẽ đe dọa đến nguồn nhân lực cho phát triển bền vững của Việt Nam trong tương lai. Bên cạnh đó, xu hướng này, có sự khác biệt rõ ràng giữa vùng địa lý, khu vực nông thôn đô thị và giữa các nhóm học vấn. Từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới như đối với vấn đề dân số cho thấy, nếu đề xu hướng và tỷ suất sinh thấp trong một thời gian dài tạo thành thôi quen, nếp sống, thậm chí là văn hóa cá nhân đề quá cao thì dù các chính sách ra đời mạnh mẽ đến đâu cũng khó có thể khá thì đưa về ngường mức sinh thay thế. Việt Nam trong thời gian vừa qua, Đảng, Nhà nước đã rất kịp thời điều chỉnh chính sách dân số, không giới hạn số con của mỗi cặp vợ chồng và công hướng với Nghị quyết 71, 72 của Bộ Chính trì sẽ tạo điều kiện thuận lợi nâng cao chất lượng dân số và sẽ là chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển của Việt Nam. Nhưng theo chúng tôi, đối với dân số, cần có những chính sách trực tiếp tổng thể, toàn diện, mạnh mẽ hơn nữa nếu không xu hướng giảm tỷ lệ sinh sẽ nhanh hơn những tác động của chính sách hiện tại.

Dân số là nguồn nhân lực, chất lượng dân số là chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển, đặc biệt Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới, cơ hội, thời cơ và nhiều thách thức mới, rất cần có nguồn nhân lực đảm bảo đủ số lượng, manh về chất lượng. Kết quả khảo sát cũng cho thấy số con kỳ vọng của các cấp vợ chồng (2,35 con) cao hơn số con của họ hiện có (1,86 con) cho thấy tín hiệu còn khả quan nếu Việt Nam điều chỉnh mạnh mẽ chính sách dân số ở thời điểm hiện tại. Để đạt mục tiêu mức sinh thay thế trong bối cảnh mới, chính sách nhà nước thay vì kiểm soát hoặc điều chỉnh mức sinh theo cách đặt áp lực và trách nhiệm lên người dân thì cần hướng thực hiện linh hoạt, tùy theo vùng, địa phương, đối tượng, không ngang bằng (không phải mọi cặp vợ chồng đều phải có hai con), mà sử dụng công cụ chính sách đa dạng qua tài chính, thuế, nhà ở, việc làm, để hài hòa giữa mục tiêu dân số và tôn trọng quyền cà nhân. Nhìn nhân dân số Việt Nam trên cơ sở cân đối tổng thể các vùng để đảm bảo Việt Nam có mức sinh thay thế là mục tiêu quan trọng và chấp nhận thực tế khó có thể khắc phục gắn với xu hướng của thế giới và nhân loại khi tỷ lệ nghịch giữa tỷ suất sinh với mức độ đô thị hóa, trình độ, mức sống càng cao. Do đó, ngoài chính sách chung toàn quốc cần tạo điều kiện nguồn lực tài chính và dư địa chính sách cho từng chính quyền địa phương căn cứ trên đặc điểm dân số, điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa để có các chính sách của địa phương phù hợp Đồng thời từ góc độ chủ thể, để huy động tổng lực của toàn xã hội chung tay, cần có các chính sách theo từng nhóm đối tượng, cả tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp, cộng đồng xã hội, địa phương, nhiều nhóm dân cư, trình độ học vấn, điều kiện kinh tế… để có một chính sách bên vững trên cơ sở chia sẻ trách nhiệm gánh vác, chung tay của mọi chủ thể qua công cụ chính sách: tài chính, thuế… trong thực hiện chính sách dân số và phát triển nguồn nhân lực của quốc gia. Về phía người dân cần có chính sách tạo điều kiện để nuôi dưỡng tốt khi sinh con hoặc sinh nhiều con. Công tác giáo dục, đào tạo cần chú trọng xuyên suốt, công tác truyền thông cần tối ưu hóa, toàn diện trên cơ sở kết hợp ứng dụng nền tảng số và trực tiếp, tạo các xu hướng tôn vinh, tâm lý tự hào cho thế hệ trẻ khi thực hiện trách nhiệm xã hội, trách nhiệm quốc gia, dân tộc khi thực hiện tốt chính sách dân số.

Dân số là nguồn nhân lực – nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển của một địa phương, quốc gia dân tộc. Chính sách dân số và phát triển nguồn nhân lực phù hợp sẽ góp phần quan trọng cho Việt Nam trong kỳ nguyên phát triển mới, phồn thịnh, bền vững.

TUỆ MINH

views Số lượt xem: 66

BÀI LIÊN QUAN

Chính sách khuyến sinh cụ thể của các nước châu Á

Để giải quyết vấn đề giảm sinh, nhiều quốc...

Một số chỉ tiêu về y tế trong năm 2026

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NĐ-CP ngày...

Tốc độ già hóa dân số ở châu Á

Theo báo cáo Triển vọng Dân số Thế giới...

Đồng bộ các giải pháp trong chính sách dân số, gia đình

Theo kết quả điều tra dân số Cục Thống...

Tư vấn, chăm sóc sức khoẻ miễn phí cho người cao tuổi Thủ đô

Sáng 31.1, tại vườn hoa Lý Tự Trọng (Hà...

Quy định mới quan trọng và các nội dung chính của Luật Dân số

(Chinhphu.vn) – So với Pháp lệnh Dân số, Luật...

Australia đối mặt với tỷ lệ sinh thấp kỷ lục

Theo phóng viên TTXVN tại Sydney, tỷ lệ sinh...