Định hướng nhiệm vụ kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2026-2030

Ngày 22/9/2026, tại Hội thảo định hướng cho các tỉnh, thành phố về hỗ trợ phương tiện tránh thai (PTTT) cho các đối tượng ưu tiên phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phương tổ chức tại Hà Nội, bà Đặng Quỳnh Thư – Phó Cục trưởng Cục Dân số (Bộ Y tế) đã có bài phát biểu trao đổi về định hướng nhiệm vụ kế hoạch hóa gia đình trong bối cảnh triển khai Luật Dân số, thực hiện Cam kết tham gia Chương trình KHHGĐ toàn cầu đến năm 2030 của Chính phủ Việt Nam và Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030.

Bà Đặng Quỳnh Thư – Phó Cục trưởng Cục Dân số phát biểu tại Hội thảo.

Nhiệm vụ về quy mô dân số và kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) của nước ta đang đứng trước một giai đoạn mới, có nhiều vấn đề rất khác so với giai đoạn trước đây. Trong một thời gian dài, nhiệm vụ trọng tâm của công tác KHHGĐ là vận động giảm sinh, kiểm soát quy mô dân số, thực hiện gia đình ít con để góp phần phát triển kinh tế – xã hội; tiếp sau đó là điều chỉnh mức sinh phù hợp giữa các vùng, đối tượng để duy trì mức sinh thay thế. Những thành tựu đạt được là rất quan trọng, góp phần cho sự phát triển của đất nước. Nhưng bối cảnh hiện nay đã thay đổi. Mức sinh của Việt Nam đã xuống dưới mức sinh thay thế trong 4 năm gần đây. Đáng chú ý, mức sinh thấp không còn chỉ tập trung ở các tỉnh, TP khu vực phía Nam, một số đô thị lớn mà xu hướng giảm sinh đang diễn ra trên phạm vi rộng, trong khi quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh.

Do vậy, trước những thay đổi đó, công tác KHHGĐ cần có những cách tiếp cận mới, phù hợp với bối cảnh dân số mới và yêu cầu phát triển của đất nước.

1) Thay đổi cách tiếp cận trong công tác KHHGĐ

– KHHGĐ không đồng nghĩa với giảm sinh. KHHGĐ được đặt trong tổng thể chính sách dân số và phát triển, gắn với quyền sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, dự phòng vô sinh, nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm khả năng để mỗi cá nhân, mỗi cặp vợ chồng chủ động thực hiện mong muốn sinh con, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dân số. Đây cũng chính là tinh thần Cam kết của Chính phủ Việt Nam tham gia Chương trình KHHGĐ toàn cầu đến năm 2030 (FP2030).

– Theo Cam kết FP2030, Việt Nam đặt mục tiêu bảo đảm đầy đủ, đa dạng, kịp thời, an toàn, thuận tiện, công bằng và có chất lượng các dịch vụ KHHGĐ; trong đó đặc biệt quan tâm đến thanh niên, vị thành niên và những nhóm còn gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ. Như vậy, trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần chuyển từ cách tiếp cận: “vận động người dân thực hiện KHHGĐ” sang “bảo đảm để người dân có đầy đủ thông tin, phương tiện và dịch vụ để chủ động thực hiện kế hoạch sinh con của mình”.

Quan trọng hơn, cách tiếp cận này cần được thể hiện bằng những thay đổi cụ thể trong tổ chức cung cấp dịch vụ, bảo đảm quyền tiếp cận và khả năng lựa chọn của người dân.

2) Kế hoạch hóa gia đình góp phần nâng cao chất lượng dân số

KHHGĐ không chỉ nhằm bảo đảm số lượng và khoảng cách sinh mà phải góp phần nâng cao chất lượng dân số. Đây phải là một mục tiêu xuyên suốt. Chất lượng dân số không chỉ được quyết định sau khi một đứa trẻ ra đời. Quá trình nâng cao chất lượng dân số phải được bắt đầu từ trước khi mang thai và trước khi sinh. Thực hiện KHHGĐ tốt giúp các cặp vợ chồng chủ động thời điểm sinh con, có khoảng cách sinh hợp lý, chuẩn bị tốt hơn về sức khỏe, sức khỏe sinh sản, kiến thức và điều kiện kinh tế – xã hội trước khi có con.

Như vậy, KHHGĐ không chỉ là tránh thai. KHHGĐ cần được nhìn rộng hơn, là: “sinh con có kế hoạch, sinh con an toàn và tạo điều kiện tốt nhất để trẻ em được sinh ra, chăm sóc và phát triển”. KHHGĐ tạo tiền đề cho nâng cao chất lượng dân số.

3) Kế hoạch hóa gia đình trong bối cảnh mức sinh thấp

Thực hiện KHHGĐ và gia tăng tỷ lệ sinh để đạt và duy trì mức sinh thay thế không phải là hai nhiệm vụ đối lập. Ngược lại, đây là hai nội dung được triển khai đồng thời trong chính sách duy trì mức sinh thay thế – lấy người dân làm trung tâm.

KHHGĐ bảo đảm mọi người dân có quyền phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, được tiếp cận BPTT phù hợp và dịch vụ có chất lượng. Đồng thời, KHHGĐ còn tạo điều kiện để người dân thực hiện được mong muốn sinh con và nuôi con.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chương trình bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030, với mục tiêu tăng trung bình 2% tổng tỷ suất sinh mỗi năm và 100% tỉnh, thành phố thực hiện chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con.

Triển khai thực hiện cam kết FP2030 đồng thời với Chương trình bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030 đặt ra yêu cầu:

(1) Không để người dân có nhu cầu tránh thai mà không được tiếp cận dịch vụ.

(2) Tạo điều kiện để những người có mong muốn sinh con thực hiện được mong muốn đó.

Đây chính là cách tiếp cận cần được thực hiện song hành trong bối cảnh dân số hiện nay.

4) Chuyển từ “cung cấp dịch vụ” sang “đáp ứng nhu cầu của người dân”

Thành công của công tác KHHGĐ không chỉ bằng số lượng PTTT được cấp phát, số lượt người được truyền thông hay số cơ sở có cung cấp dịch vụ. Điều quan trọng hơn là:

– Người dân có được lựa chọn hay không?

– Người dân có được tư vấn đầy đủ hay không?

– Dịch vụ có an toàn, thuận tiện và phù hợp hay không?

– Người sử dụng có hài lòng hay không?

– Và đặc biệt: Những người khó tiếp cận nhất có thực sự được tiếp cận hay chưa?

KHHGĐ cần được quản lý dựa trên nhu cầu và kết quả đối với người sử dụng dịch vụ. Đây cũng là yêu cầu xuyên suốt của FP2030.

5) Thanh niên và vị thành niên được coi là trọng tâm của công tác kế hoạch hóa gia đình

Nếu trước đây công tác KHHGĐ chủ yếu tập trung vào phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có chồng thì trong giai đoạn hiện nay, KHHGĐ cần tăng cường tiếp cận ngay từ vị thành niên/thanh niên.

Đây là nhóm đang đứng trước nhiều thay đổi về nhận thức, hành vi, quan hệ xã hội và sức khỏe sinh sản. Cần cung cấp kiến thức đúng, dịch vụ phù hợp và môi trường tiếp cận thân thiện.

Không thể để một thanh niên có nhu cầu tư vấn về sức khỏe sinh sản nhưng không biết tìm đến đâu. Không thể để một phụ nữ trẻ mang thai ngoài ý muốn chỉ vì không tiếp cận được BPTT phù hợp. Và cũng không thể để những người trẻ bước vào hôn nhân mà thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tiền hôn nhân và kế hoạch sinh con.

Việt Nam đã đặt mục tiêu giảm 2/3 số vị thành niên, thanh niên có thai ngoài ý muốn so với năm 2025 trong Kế hoạch thực hiện FP2030. Vì vậy, thanh niên, vị thành niên cần được xác định là một trong những nhóm đối tượng trọng tâm trong truyền thông, tư vấn và cung cấp dịch vụ KHHGĐ trong giai đoạn hiện nay.

6) Đổi mới mạnh mẽ công tác truyền thông

Từ những thay đổi về bối cảnh dân số, những thay đổi trong tiếp cận, công tác truyền thông KHHGĐ cần được đổi mới mạnh mẽ. Đổi mới nội dung và cách thức truyền thông để phù hợp hơn với nhu cầu của người dân trong giai đoạn hiện nay.

Nội dung truyền thông cần bao quát hơn về Quyền sinh sản; sinh con có kế hoạch; phòng tránh mang thai ngoài ý muốn; khoảng cách sinh hợp lý; bảo vệ sức khỏe sinh sản và dự phòng vô sinh; trách nhiệm của nam giới; trách nhiệm chăm sóc và nuôi dạy con; và các chính sách hỗ trợ sinh, nuôi con của Nhà nước.

Đồng thời, phương thức truyền thông cần phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là thanh niên, vị thành niên và những nhóm khó tiếp cận, để thông tin thực sự đến được với người cần.

7) Hỗ trợ đối tượng ưu tiên theo quy định

Cùng với việc bảo đảm tiếp cận KHHGĐ cho người dân, cần tập trung hỗ trợ các nhóm còn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận dịch vụ, gồm: Các đối tượng thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội; đối tượng thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đơn vị hành chính cấp xã đặc biệt

khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo; xã thuộc khu vực biên giới đất liền.

Việc hỗ trợ cần căn cứ quy định hiện hành và điều kiện thực tiễn của từng địa phương, bảo đảm đúng đối tượng, đúng quy định và góp phần thu hẹp khoảng cách trong tiếp cận dịch vụ KHHGĐ.

Một số nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện:

Từ những định hướng trên, công tác KHHGĐ trong thời gian tới tập trung vào một số nhiệm vụ sau:

(1) Một là, thống nhất nhận thức về công tác KHHGĐ trong bối cảnh mức sinh thấp; bảo đảm KHHGĐ được triển khai đồng thời với các giải pháp duy trì mức sinh thay thế.

(2) Hai là, bảo đảm người dân được tiếp cận đầy đủ các BPTT hiện đại và dịch vụ KHHGĐ có chất lượng. Đặc biệt quan tâm nhóm thanh niên, vị thành niên, người dân vùng khó khăn, người dân tộc thiểu số, người di cư và các nhóm dễ bị bỏ lại phía sau.

(3) Ba là, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ tại tuyến cơ sở, từ năng lực của đội ngũ đến khả năng tư vấn, lựa chọn và cung cấp các PTTT phù hợp.

(4) Bốn là, đổi mới nội dung, phương thức truyền thông, hướng tới cung cấp thông tin đầy đủ, dễ tiếp cận và phù hợp với từng nhóm đối tượng.

(5) Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số và sử dụng dữ liệu để quản lý, theo dõi nhu cầu và kết quả cung cấp dịch vụ KHHGĐ.

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn mới của công tác dân số. Luật Dân số đã tạo ra nền tảng pháp lý mới. FP2030 tạo ra một cam kết về quyền sinh sản và KHHGĐ. Chương trình bảo đảm mức sinh thay thế đặt ra yêu cầu chiến lược mới. Và yêu cầu nâng cao chất lượng dân số đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận KHHGĐ theo một cách toàn diện hơn. Các tỉnh/thành phố cần tăng cường triển khai các nhiệm vụ về công tác KHHGĐ:

(1) Không để người dân có nhu cầu KHHGĐ mà không được tiếp cận dịch vụ.

(2) Không để thanh niên, vị thành niên thiếu thông tin và dịch vụ cần thiết để bảo vệ sức khỏe sinh sản.

(3) Không để những người mong muốn sinh con phải từ bỏ mong muốn chỉ vì những rào cản có thể tháo gỡ bằng chính sách.

Và trên hết, mọi chính sách dân số phải hướng tới con người là trung tâm, vì chất lượng cuộc sống của người dân, vì gia đình hạnh phúc và vì sự phát triển bền vững của đất nước. Đó cũng là định hướng xuyên suốt triển khai công tác KHHGĐ trong giai đoạn 2026 – 2030.

MINH HIẾU

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

views Số lượt xem: 584

BÀI LIÊN QUAN

Tháng hành động vì người cao tuổi năm 2026

Tháng hành động vì người cao tuổi năm 2026