Luật Dân số siết chặt quy định cấm lựa chọn giới tính thai nhi

Luật Dân số siết chặt quy định cấm lựa chọn giới tính thai nhi

 

Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam đang ở mức báo động, đe dọa phá vỡ cấu trúc dân số và gây ra những hệ lụy nghiêm trọng về kinh tế – xã hội. Trước thực trạng này, Luật Dân số đã thiết lập những quy định nhằm đưa tỷ số giới tính trở lại mức cân bằng tự nhiên.

Bức tranh thực tiễn: Khi tỷ lệ vàng bị phá vỡ và những con số đáng báo động

Trong tự nhiên, tỷ số giới tính khi sinh (SRB) được coi là cân bằng khi dao động trong khoảng từ 103-106 bé trai/100 bé gái. Đây là tỷ lệ vàng để đảm bảo sự cân bằng sinh học và duy trì cấu trúc dân số ổn định. Tuy nhiên, tại Việt Nam, tỷ lệ này đã bị phá vỡ nghiêm trọng trong nhiều năm qua và chưa có dấu hiệu dừng lại.

Theo số liệu từ Báo cáo quốc gia đầu tiên về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2021-2024 củaCục Thống kê (với sự hỗ trợ của Quỹ Dân số Liên hợp quốc và Tổ chức Y tế công cộng), giai đoạn 2021-2024, tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta là 109,8 trẻ trai/100 trẻ gái. Năm 2024, tỷ số này là 110,7 trẻ trai/100 trẻ gái. Điều này đồng nghĩa với việc cứ 100 bé gái chào đời thì có 111 bé trai được sinh ra, một sự chênh lệch vượt xa mức sinh học tự nhiên.

Tình trạng này không diễn ra đồng đều trên cả nước mà tập trung cao độ ở một số địa phương, tạo ra những vùng trũng sâu sắc về mất cân bằng giới tính. Số liệu cho thấy Bắc Ninh hiện là địa phương có tỷ lệ chênh lệch cao nhất cả nước với 119,6 bé trai/100 bé gái. Con số này không chỉ là một thống kê đơn thuần mà là hồi chuông cảnh báo về tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn ăn sâu bám rễ trong nhận thức của một bộ phận không nhỏ người dân, đặc biệt là tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

Biểu đồ minh họa trực quan cho thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực để kiềm chế tình trạng này. Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới, Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 và Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2016-2025 đã được triển khai quyết liệt. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tỷ số mất cân bằng giới tính khi sinh tuy đã được khống chế bước đầu nhưng vẫn còn ở mức rất cao.

Sự chênh lệch giới tính ngay từ khi sinh ra hôm nay sẽ dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng về mặt cấu trúc xã hội trong 20-30 năm tới, khi lứa trẻ này bước vào độ tuổi trưởng thành và lập gia đình. Nếu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tiếp tục duy trì ở mức cao và không được kiểm soát hiệu quả, đến năm 2034, Việt Nam sẽ dư thừa khoảng 1,5 triệu nam giới trong độ tuổi kết hôn (15-49 tuổi). Nghiêm trọng hơn, con số này dự kiến sẽ tăng lên 1,8 triệu người vào năm 2059.

Hệ lụy của việc dư thừa nam giới không chỉ dừng lại ở những con số thống kê khô khan mà còn vẽ ra một viễn cảnh xã hội nơi hàng triệu nam giới Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ không thể tìm được bạn đời để kết hôn. Tình trạng này, thuật ngữ chuyên môn gọi là sức ép hôn nhân, sẽ dẫn đến sự tan vỡ của cấu trúc gia đình truyền thống.

Khi hàng triệu nam giới không thể thực hiện thiên chức làm chồng, làm cha theo quy luật tự nhiên, những hệ lụy xã hội đi kèm sẽ vô cùng phức tạp. Nguy cơ gia tăng các tệ nạn xã hội như mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em gái, bạo lực giới là điều hoàn toàn có thể dự báo trước. Thậm chí, tình trạng này còn có thể ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của đất nước. Đây được xác định là một trong những thách thức lớn nhất và khó giải quyết nhất của công tác dân số Việt Nam trong giai đoạn mới.

Luật dân số: Bước chuyển mình về tư duy và hành động

Trước những thách thức chưa từng có đó, việc xây dựng và ban hành Luật Dân số để thay thế cho Pháp lệnh Dân số năm 2003 trở thành một yêu cầu cấp thiết. Luật Dân số không chỉ là sự nâng cấp về mặt hình thức văn bản mà còn là sự thay đổi căn bản về chất trong tư duy quản lý. Luật Dân số đã thể chế hóa mạnh mẽ việc chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Sự chuyển dịch này được cụ thể hóa thông qua 4 chính sách lớn: Duy trì mức sinh thay thế; Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; Thích ứng với già hóa dân số và Nâng cao chất lượng dân số.

Đình chỉ hành nghề khi vi phạm quy định

Điểm nhấn quan trọng và mang tính răn đe cao trong Luật là quy định về xử lý vi phạm đối với đội ngũ y tế. Theo đó, đình chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đối với người có hành vi thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi để phá thai và việc đình chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh này thực hiện theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.

Khi bác sĩ và nhân viên y tế nhận thức rõ cái giá phải trả cho việc tiết lộ giới tính thai nhi nhằm mục đích phá thai là sự nghiệp của chính mình, họ sẽ phải tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật. Đây là thông điệp mạnh mẽ của cơ quan quản lý nhà nước: Y đức không cho phép tiếp tay cho việc lựa chọn giới tính thai nhi.

Thay đổi nhận thức từ gốc

Bên cạnh các biện pháp cứng về hành chính và kỹ thuật, Luật cũng chú trọng đặc biệt đến các giải pháp mềm nhằm thay đổi nhận thức xã hội – gốc rễ của vấn đề. Luật khuyến khích đưa nội dung không trọng nam hơn nữ, không lựa chọn giới tính khi sinh vào hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư. Hương ước, quy ước vốn là những luật lệ bất thành văn nhưng có sức mạnh điều chỉnh hành vi rất lớn trong đời sống văn hóa làng xã Việt Nam. Việc lồng ghép các quy định này vào đời sống văn hóa cơ sở sẽ tạo ra sức ép dư luận xã hội tích cực, dần dần loại bỏ tư tưởng lạc hậu trọng nam khinh nữ đã ăn sâu trong tiềm thức của nhiều người dân.

Mất cân bằng giới tính khi sinh là một vấn đề xã hội phức tạp, là sự cộng hưởng của văn hóa truyền thống (tâm lý thích con trai nối dõi), áp lực kinh tế và sự lạm dụng thành tựu khoa học. Do đó, việc giải quyết vấn đề này không thể thực hiện trong một sớm một chiều mà đòi hỏi sự kiên trì, quyết liệt của cả hệ thống chính trị.

Luật Dân số với những quy định về cấm lựa chọn giới tính, chế tài xử lý mạnh mẽ đối với hành vi vi phạm y đức, kết hợp với các biện pháp vận động xã hội sâu rộng, được kỳ vọng sẽ là liều thuốc đặc trị cho căn bệnh mất cân bằng giới tính.

Thành công trong việc đưa tỷ số giới tính về mức cân bằng tự nhiên sẽ mang lại ý nghĩa chiến lược to lớn. Nó không chỉ giúp ổn định cấu trúc dân số, bảo vệ hạnh phúc của hàng triệu gia đình trong tương lai mà còn là minh chứng cho sự văn minh, tiến bộ của xã hội Việt Nam trong việc thực hiện bình đẳng giới. Luật Dân số, vì thế, không chỉ là văn bản pháp lý quản lý nhà nước, mà còn là bản cam kết trách nhiệm của thế hệ hôm nay đối với sự phát triển hài hòa và bền vững của các thế hệ mai sau.

Ảnh minh họa: Tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta ngày càng nghiêm trọng

ANH TÚ

 

views Số lượt xem: 36

BÀI LIÊN QUAN

Chính sách khuyến sinh cụ thể của các nước châu Á

Để giải quyết vấn đề giảm sinh, nhiều quốc...

Một số chỉ tiêu về y tế trong năm 2026

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NĐ-CP ngày...

Tốc độ già hóa dân số ở châu Á

Theo báo cáo Triển vọng Dân số Thế giới...

Đồng bộ các giải pháp trong chính sách dân số, gia đình

Theo kết quả điều tra dân số Cục Thống...

Tư vấn, chăm sóc sức khoẻ miễn phí cho người cao tuổi Thủ đô

Sáng 31.1, tại vườn hoa Lý Tự Trọng (Hà...

Quy định mới quan trọng và các nội dung chính của Luật Dân số

(Chinhphu.vn) – So với Pháp lệnh Dân số, Luật...

Australia đối mặt với tỷ lệ sinh thấp kỷ lục

Theo phóng viên TTXVN tại Sydney, tỷ lệ sinh...

Chủ động thích ứng với già hóa dân số

Chiều 26/1, Doanh nghiệp Xã hội VIOBA – Vì...