Mức sinh trên thế giới giảm liên tục trong những thập kỷ qua từ 5 con những năm 1960s xuống còn 3,3 con năm 1990 và còn 2,2 con năm 2024. Dự báo mức sinh thế giới sẽ đạt 2,1 con vào năm 2050 và tiếp tục giảm xuống còn 1,8 con vào năm 2100. Hơn một nửa các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới có mức sinh dưới 2,1 con, trong đó có cả những quốc gia có quy mô dân số lớn như Ấn Độ, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Brazil, Nga…Cứ 10 quốc gia và vùng lãnh thổ thì có hơn 1 quốc gia/vùng lãnh thổ có mức sinh dưới 1,4, đặc biệt ở mức dưới 1,0 như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore.
Suy giảm mức sinh sẽ tác động trực tiếp, sâu sắc đến quy mô và cơ cấu dân số nói riêng cũng như sự phát triển bền vững nói chung. Ứng phó với mức sinh thấp và các khuyến nghị hàm ý chính sách sẽ được trình bày rõ hơn trong tham luận Mức sinh thấp trên thế giới và khuyến nghị hàm ý chính sách.
1. Hiện trạng mức sinh của thế giới và các giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu
1.1. Mức sinh của thế giới năm 2024
Để đo lường mức sinh của một dân số, các nhà nhân khẩu học thường sử dụng các chỉ báo: Tỷ suất sinh thô (CBR-Crude Birth Rate), tỷ suất sinh chung (GFR- General Fertility Rate), tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR-Age Specific Fertility Rate) và tổng tỷ suất sinh (TFR-Total Fertility Rate).
Trong bài viết này, xin được sử dụng chỉ báo tổng tỷ suất sinh (TFR). TFR được hiểu là số con trung bình sinh ra còn sống của một phụ nữ trong suốt cuộc đời của mình nếu qua các năm sinh đẻ, họ tuân theo các tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi của một năm nhất định hoặc để đơn giản hơn, ta nói TFR là số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi).
Hình 1: Bản đồ mức sinh (TFR) trên thế giới, 2024

Nguồn: CIA (USA), The World Factbook
Báo cáo Số liệu dân số thế giới năm 2024 (2024 World Population Data sheet) của Văn phòng Tham chiếu Dân số Hoa Kỳ (Population Bureau Reference) cho thấy, thế giới hiện nay có hơn 8,1 tỷ người. Châu Á là ngôi nhà chung của gần 5 tỷ người và là châu lục có dân số đông nhất thế giới, chiếm tới 59% dân số toàn cầu. Hai siêu cường về quy mô dân số đều nằm tại châu Á là Ấn Độ với 1,44 tỷ người và Trung Quốc với 1,41 tỷ người.
Trung bình mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên thế giới có 2,2 con. Mức sinh tại mỗi châu lục, khu vực cũng rất khác biệt. Trong khi mức sinh tại châu Phi là 4,1 con thì tất cả các châu lục còn lại đều dưới 2,1 con, trong đó thấp nhất là châu Âu với 1,4 con, châu Mỹ là 1,7 con.
Quan sát bản đồ mức sinh thế giới phía trên (hình 1), màu đỏ (TFR dưới 2,1 con) gần như bao trùm hầu khắp hành tinh, phần nào cho thấy sự báo động về mức sinh toàn cầu. Màu xanh (TFR trên 2,5 con) chỉ còn lại ở châu Phi và một số nước ở Trung Đông như Afghanistan (4,8 con), Yemen (4,6 con), Iraq (3,7 con), Pakistan, Tajikistan (3,6 con).
Theo bảng tổng sắp của CIA, Hoa Kỳ trong số 227 quốc gia và vùng lãnh thổ thì có tới 132 quốc gia và vùng lãnh thổ (chiếm 58,15%) có mức sinh dưới 2,1 con. Mức sinh thấp nhất là Đài Loan (1,11 con), Hàn Quốc (1,12 con), Singapore (1,17 con) còn mức sinh cao nhất là Niger (6,64 con), Angola (5,7 con), CHDC Congo (5,49 con), chênh nhau tới 5,5 con.
Bảng 1: 10 quốc gia/vùng lãnh thổ có tổng tỷ suất sinh cao nhất và thấp nhất thế giới, 2024

Nguồn: Central Intelligence Agency, The World Factbook 2024
1.2. Mức sinh thế giới ngày càng giảm
Mặc dù, mức sinh của một số quốc gia, đặc biệt là tại châu Phi còn cao nhưng đó cũng là sự nỗ lực rất lớn của chính phủ những quốc gia này và cộng đồng thế giới trong triển khai chương trình dân số-kế hoạch hóa gia đình hơn nửa thế kỷ qua. Quan sát mức sinh và dự báo của các nhà nhân khẩu học trên thế giới cho thấy, mức sinh của các khu vực và thế giới trong 2,5 thế kỷ, từ năm 1950 đến năm 2100, đều ghi nhận xu hướng mức sinh giảm. Theo Liên hợp quốc, mức sinh của thế giới đạt đỉnh vào năm 1963 với 5,3 con và giảm xuống còn 2,2 con hiện nay. Dự báo đến năm 2100, mức sinh của thế giới là 1,8 con.
Những năm 1970 và đầu những năm 1980, các nước châu Âu, Bắc Mỹ đồng loạt đạt mức sinh thay thế. Mức sinh tại những khu vực này tiếp tục suy giảm cho đến hiện tại. Tuy nhiên, dường như các nhà khoa học cũng dành một sự lạc quan nhẹ về mức sinh của khu vực này trong những thập kỷ tiếp theo (dự báo năm 2100, mức sinh của châu Âu tăng lên là 1,58 con). Liệu điều này có thể trở thành hiện thực? Câu trả lời chỉ có thể ở tương lai.
Biểu 1: Tổng tỷ suất sinh thế giới và các châu lục, 1950-2100

Nguồn: United Nations, World Population Prospect: The 2024 Revision
1.3. Quá trình chuyển đổi nhân khẩu
Để theo dõi quá trình chuyển đổi nhân khẩu của nhân loại, các nhà nhân khẩu học trên thế giới đã chia thành các giai đoạn khác nhau hoặc 3 hoặc 4 hoặc 5 giai đoạn, tùy theo sự ngắn gọn hay chi tiết của mỗi nghiên cứu. Tuy nhiên, các nghiên cứu đều có điểm chung là ở thời kỳ đầu mức sinh và mức chết đều rất cao. Sau đó mức chết giảm xuống nhanh chóng nhờ những cải thiện trong y tế, nước sạch, vệ sinh, kinh tế-xã hội trong khi mức sinh vẫn còn cao. Mức sinh sau đó giảm xuống đến khi gặp mức chết. Các nhà nhân khẩu học cũng bỏ ngỏ câu hỏi liệu mức chết có cao hơn mức sinh, tức mức sinh xuống đến quá thấp, thấp hơn cả mức chết.
Biểu 2: Các giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu
Mặc dù mức chết, mức sinh giảm từ giai đoạn thứ 3, đặc biệt là ở mức thấp (giai đoạn 4) nhưng quy mô dân số vẫn tiếp tục tăng. Nguyên nhân là do mức sinh từ các giai đoạn trước đó cao và quá trình chuyển đoàn hệ sinh (số phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ) đã làm cho quy mô dân số vẫn tiếp tục tăng cho đến tận thời kỳ thứ 5 mới có dấu hiệu giảm. Trường hợp Việt Nam là một ví dụ. Mức sinh của nước ta đã giảm từ 6,3 con (năm 1960) xuống còn 2,11 con (năm 2005) và hiện còn 1,94 con (năm 2024) nhưng quy mô dân số vẫn tăng lên từ 85,9 triệu người (năm 2009) lên 96,2 triệu người (năm 2019) và lên 101,1 triệu người (năm 2024).
1.4. Mức sinh thấp ngày càng thấp hơn
Như trên đã đề cập, hiện có tới 132 quốc gia và vùng lãnh thổ (trong tổng số 227 quốc gia và vùng lãnh thổ) có mức sinh dưới mức sinh thay thế. Trong đó có 85 quốc gia và vùng lãnh thổ có mức sinh dưới 1,8 con. Mức sinh dưới 1,6 con có 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Mức sinh thấp bao phủ khắp các châu lục, ngay cả tại châu Phi-châu lục có mức sinh cao-cũng có Mauritius (1,36 con), Saint Helena (1,61 con), Seychelles (1,81 con), Tunisia (1,93 con). Mức sinh thấp không chỉ là thách thức của một quốc gia mà là vấn đề của châu lục và liên châu lục.
Báo cáo Mức sinh thế giới năm 2024 (World Fertility 2024) của Liên hợp quốc cho thấy 56 quốc gia và vùng lãnh thổ có mức sinh dưới 2,1 con từ năm 1994 đến nay hầu hết đều suy giảm mức sinh, có những trường hợp rất nghiêm trọng như: Trung Quốc (từ 1,63 xuống còn 1,01), Hong Kong (từ 1,37 xuống còn 0,73), Macao (từ 1,43 xuống còn 0,68), Đài Loan (từ 1,77 xuống còn 0,86), Hàn Quốc (từ 1,67 xuống còn 0,73), Singapore (từ 1,47 xuống còn 0,95), Thái Lan (từ 1,93 xuống còn 1,20), Belarus (từ 1,49 xuống còn 1,22), Norway (từ 1,87 xuống còn 1,41), Poland (từ 1,80 xuống còn 1,30)…
Điều này cho thấy, sau khi đã đạt mức sinh thay thế, các quốc gia và vùng lãnh thổ rất dễ rơi vào trạng thái mức sinh rớt xuống dưới mức sinh thay thế và thập chí xuống mức rất thấp. Những năm cuối 1960 đầu 1970, châu Âu đã đạt mức sinh thay thế nhưng sau đó, mức sinh này không được duy trì ổn định mà ngày càng xuống thấp. Đến nay, mức sinh của một số nước rất thấp như: Malta (1,11 con), Italy (1,21 con), Spain (1,22 con), Belarus (1,22 con), Finland (1,29 con)…
Hàn Quốc đạt mức sinh thay thế vào năm 1983 nhưng ngay sau đó, năm 1985 mức sinh của Hàn Quốc rớt xuống còn 1,67 con và năm 2001 chỉ còn 1,3 và đến bây giờ là 0,73 con. Trước đó, Nhật Bản cũng đạt mức sinh thay thế vào những năm cuối 1950s nhưng năm 1961 chỉ còn 1,96 con, năm 2000 mức sinh đã rơi xuống còn 1,36 con, đến nay còn 1,22 con.
Tuy nhiên, Báo cáo của Liên hợp quốc cũng cho thấy có sự cải thiện về mức sinh của một số quốc gia như Bulgaria, Czechia, Đức, Portugal, Romania, Nga…
Bảng 2: Mức sinh của một số quốc gia Đông Á và Đông Nam Á, 2024
(*) sắp xếp theo thứ tự TFR từ thấp đến cao
Nguồn: United Nations Department of Economic and Social Affairs, World Fertility 2024
2. Can thiệp chính sách đối với mức sinh thấp
2.1. Nghiên cứu một số trường hợp cụ thể
2.1.1. Nhật Bản:
Đối diện với vấn đề mức sinh thấp, Nhật Bản ban hành các chính sách khuyến khích người trẻ kết hôn và sinh con, đồng thời gia tăng áp lực xã hội lên những người trẻ không kết hôn hoặc kết hôn mà không chịu sinh con. Tuy nhiên, tỷ lệ kết hôn muộn là biểu hiện chứ không phải nguyên nhân. Các nước Đông Á thường quan niệm rằng kết hôn đồng nghĩa với việc sinh con hay sinh con thì phải kết hôn. Nguyên nhân của mức sinh thấp không phải là vấn đề cá nhân mà là vấn đề xã hội. Những áp lực của xã hội, các vấn đề kinh tế-xã hội đã tác động đến việc sinh con, nuôi dạy con và duy trì kinh tế sau khi có con.
Đầu những năm 1990, Nhật Bản đã mở rộng các chính sách hướng vào 3 lĩnh vực: (1) Dịch vụ chăm sóc trẻ em (2) Chế độ nghỉ thai sản của cha mẹ (3) Hỗ trợ tiền. Năm 1994, Nhật Bản hướng đến xây dựng nơi làm việc thân thiện với gia đình, rồi triển khai các Kế hoạch Thiên thần theo các giai đoạn 5 năm, “Thế hệ kế tiếp”, “Các biện pháp cơ bản đối phó với xã hội suy giảm mức sinh”; ban hành các văn bản như Luật Nghỉ việc để chăm sóc con và gia đình, Luật Bảo hiểm việc làm, Thành lập Ủy ban liên Bộ về “Tạo môi trường lành mạnh cho việc sinh con và nuôi dưỡng trẻ em”…
Tựu chung lại, Nhật Bản có các chính sách tác động vào các vấn đề: kết hôn; mang thai và sinh con; chăm sóc trẻ sơ sinh; hỗ trợ kinh tế khi nuôi con; giáo dục; xã hội thân thiện với kết hôn, mang thai, sinh con.
2.1.2. Hàn Quốc:
Tương tự Việt Nam, Hàn Quốc là một trong số ít các quốc gia trên thế giới sớm bắt đầu chương trình dân số-kế hoạch hóa gia đình (năm 1962). Tuy nhiên, 21 năm sau, năm 1983, Hàn Quốc đạt mức sinh thay thế nhưng ngay 2 năm sau đó, năm 1985, mức sinh của Hàn Quốc xuống còn 1,67 con và đến nay thuộc nhóm nước có mức sinh thấp nhất thế giới.
Năm 1988 chính sách dân số của Hàn Quốc hướng đến: (1) Giữ vững mức sinh (thực chất đã là dưới mức sinh thay thế nhưng muốn không xuống quá thấp), cải thiện mức chết (2) Nâng cao sức khỏe và phúc lợi gia đình (3) Giải quyết vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh (4) Vị thành niên/thanh niên; (5) Trao quyền cho phụ nữ (6) Cải thiện cơ hội làm việc và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, phúc lợi cho người cao tuổi.
Đến nay, Hàn Quốc liên tiếp đưa ra kế hoạch về mức sinh thấp và dân số già. Kế hoạch này hướng đến xây dựng môi trường thuận lợi cho việc sinh con, gia đình thân thiện, bình đẳng giới, xã hội đa văn hóa, cải thiện chất lượng cuộc sống, chăm sóc người cao tuổi, xây dựng xã hội dân số già, thị trường lao động cho phụ nữ và người cao tuổi, an sinh xã hội, bảo đảm tăng trưởng kinh tế, chính sách nhập cư, hệ thống học tập suốt đời.
Mặc dù Hàn Quốc nỗ lực vực mức sinh nhưng hơn 4 thập kỷ qua, kể từ khi đạt mức sinh thay thế, mức sinh của Hàn Quốc ngày càng đi xuống và thuộc nước có mức sinh thấp nhất thế giới. Chính phủ Hàn Quốc đã từng đưa ra cảnh báo mạnh mẽ: Năm 2750, công dân cuối cùng của Hàn Quốc sẽ biến mất trên địa cầu.
2.1.3. Trung Quốc:
Trung Quốc đạt mức sinh thay thế vào năm 1992 nhưng cho đến nay, mức sinh của Trung Quốc là 1,01. Năm 2016, Trung Quốc chính thức thực hiện chính sách mỗi cặp vợ chồng có 2 con và chấm dứt chính sách một con kéo dài vài thập kỷ. Trên thực tế, Trung Quốc đã linh hoạt chính sách mức sinh từ những năm cuối 1990 bao gồm các chính sách 1 con (35,4% dân số), chính sách 1,5 con (53,6% dân số), chính sách 2 con (9,7% dân số) và chính sách 3 con (1,3% dân số).
Hiện nay, Trung Quốc không thực hiện chính sách số con và thực hiện nhiều chính sách nâng cao chất lượng dân số, thích ứng với già hóa dân số, xử lý vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh, bảo đảm sự phát triển bền vững của dân số như các chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, hỗ trợ công nghệ sinh sản, tăng số ngày nghỉ của cả bố, mẹ khi thực hiện chế độ thai sản, thực hiện luật lao động, tăng tuổi nghỉ hưu, cải cách hệ thống an sinh xã hội, chính sách y tế, xây dựng gia đình thân thiện, đặc biệt là khuyến khích các sáng kiến tại các địa phương như hỗ trợ trẻ em, hỗ trợ thuế thu nhập cá nhân trong thực hiện chính sách dân số.
2.2. Những khuyến nghị chính sách được rút ra
Báo cáo Chính sách Dân số Thế giới năm 2021 của Liên hợp quốc cho thấy có ba phần tư các chính phủ có chính sách liên quan đến mức sinh. Hầu hết chính phủ các quốc gia châu Âu, Bắc Mỹ, Đông Á và Đông Nam Á có chính sách tăng sinh. Chính phủ các quốc gia có mức sinh thấp, bao gồm cả những quốc gia không có chính sách chính thức nào tác động đến mức sinh, đều áp dụng các biện pháp khuyến khích sinh con, bao gồm chế độ nghỉ phép dành cho cha mẹ, việc làm, trợ cấp chăm sóc trẻ em, giờ làm việc linh hoạt hoặc bán thời gian cho cha mẹ, tín dụng thuế cho con phụ thuộc và trợ cấp trẻ em hoặc gia đình.
Tài liệu Chính sách mức sinh và thực hành của The Economist Group 2023 nghiên cứu các trường hợp ở châu Á-Thái Bình dương cho thấy, chính sách can thiệp mức sinh tập trung vào các nhóm chính sách: Giảm chi phí cơ hội thông qua chính sách hỗ trợ tại nơi làm việc và chăm sóc trẻ em; nhóm chính sách giảm vô sinh ngoài ý muốn; nhóm chính sách tác động về văn hóa, xã hội. Trong các nhóm chính sách lại có các chính sách cụ thể như: trợ cấp trẻ em, nghỉ phép nuôi con, hỗ trợ gia đình đơn thân, cơ sở chăm sóc trẻ em và giáo dục mầm non, hỗ trợ cho thanh thiếu niên, dịch vụ gia đình, miễn hoặc hỗ trợ giảm thuế, phí…
Nghiên cứu trường hợp Hàn Quốc ở trên cũng cho thấy các nhóm chính sách được tập trung gồm: (1) Nhóm chính sách hỗ trợ kinh tế (hỗ trợ chi phí chăm sóc trẻ em, giáo dục mầm non; mở rộng lợi ích của thuế, bảo hiểm xã hội gia đình; hỗ trợ cho gia đình nhận con nuôi; cơ sở chăm sóc trẻ; hỗ trợ dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ em; hỗ trợ dự phòng, điều trị vô sinh) (2) nhóm chính sách hỗ trợ xây dựng gia đình thân thiện, bình đẳng (tăng cường khả năng tương thích giữa nơi làm việc và gia đình; trợ cấp nghỉ thai sản; đa dạng hóa nghỉ chăm sóc con và linh hoạt các điều kiện lao động; hỗ trợ phụ nữ tái tham gia thị trường lao động; xây dựng gia đình thân thiện). (3) nhóm chính sách vì một thế hệ khỏe mạnh trong tương lai (mở rộng giáo dục sau giờ học chính khóa; nâng cao chất lượng cuộc sống).
Liên hợp quốc đã liệt kê các lựa chọn chính sách can thiệp cho mức sinh thấp như: Quản lý về phương tiện tránh thai; hạn chế/quản lý chặt chẽ phá thai; giáo dục cho trẻ em gái; việc làm cho phụ nữ; tạo điều kiện cho việc kết hôn, mở các chiến dịch công đồng về kết hôn, sinh con và làm cha mẹ; hỗ trợ tài chính; chế độ thai sản cho cả bố mẹ; hỗ trợ tiền khi có con phụ thuộc; chăm sóc sức khỏe trước sinh, điều trị vô sinh; phát triển hoặc hỗ trợ các cơ sở chăm sóc trẻ sơ sinh, trẻ em; cơ sở chăm sóc mầm non và sau giờ học; ưu đãi thuế/khấu trừ khi có con phụ thuộc; an sinh xã hội và các dịch vụ chăm sóc người cao tuổi; việc làm bán thời gian, thời giờ làm việc linh hoạt; chia sẻ trách nhiệm giữa ông bố và bà mẹ, giữa nam và nữ; thay đổi các quan niệm truyền thống; ưu tiên, hỗ trợ các bố mẹ có con phụ thuộc như ưu tiên trong thế chấp, nhà ở, cho vay, dịch vụ công và lợi ích; hệ thống chính trị/luật pháp có ưu tiên hơn đối với những gia đình có con (ưu ái về mặt chính trị, pháp lý).
3. Một số kết luận chính
3.1. Xu hướng chung trên thế giới là mức sinh tiếp tục giảm. Ngày càng nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ tiệm cận và đạt mức sinh thay thế. Số lượng các quốc gia và vùng lãnh thổ có mức sinh dưới mức sinh thay thế, mức sinh thấp, rất thấp ngày càng gia tăng.
3.2. Mức độ tác động của mức sinh thấp ngày càng thể hiện rõ rệt, sâu, rộng, đặc biệt trong vấn đề già hóa dân số và di cư.
3.3. Số lượng các quốc gia và vùng lãnh thổ có chính sách can thiệp đối với việc tăng tỷ lệ phát triển dân số ngày càng tăng dù mỗi quốc gia có chính sách khác nhau, mức độ can thiệp khác nhau.
3.4. Hầu hết các quốc gia có mức sinh thấp, rất thấp đều không có chính sách/biện pháp hạn chế mức sinh mà đều đưa ra các chương trình nhằm tăng mức sinh.
3.5. Không một quốc gia và vùng lãnh thổ nào áp dụng một chính sách đơn lẻ hoặc cho rằng chính sách đó là ưu việt mà tất cả các chính sách đều liên kết với nhau theo hướng khuyến khích kết hôn, hỗ trợ mang thai, sinh con, chăm con, hỗ trợ cha mẹ, ông bà, môi trường gia đình, xã hội, nhà trường, nơi làm việc thân thiện, bình đẳng giới và chính sách nhập cư.
3.6. Hầu như tất cả các biện pháp, chính sách can thiệp đối với mức sinh thấp đều không có kết quả tích cực hoặc chưa có kết quả như mong đợi. Nguyên nhân chưa thành công này rất khó có câu trả lời đầy đủ và bao quát. Có sự tương đồng của một số chính sách, biện pháp tại nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ nhưng kết quả thì đều giống nhau: Chưa có kết quả tích cực hoặc chưa thực sự thành công. Nhưng điều này không có nghĩa là các chính phủ không nên hoặc không đưa ra chính sách can thiệp và thực thi những chính sách, biện pháp đó.
3.7. Những kết luận trên cho thấy rằng, khi đã đạt mức sinh thay thế, các chính phủ rất cần và ngay lập tức linh hoạt về chính sách, biện pháp can thiệp đối với mức sinh nhằm ngăn chặn việc mức sinh rớt xuống thấp hoặc quá thấp.
3.8. Khi mức sinh đã xuống thấp, cần có chính sách, biện pháp can thiệp ngay lập tức nhằm vực lại mức sinh bởi trên thực tế, việc vực lại mức sinh là rất khó, lâu dài trong khi những hệ lụy của mức sinh thấp, rất thấp lại ngày càng rõ rệt, tác động sâu, rộng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội và sự phát triển bền vững của quốc gia, dân tộc./.
TUẤN HÙNG
Tài liệu tham khảo:
- Antonio Golini, Low Fertility and Policy Responses in Some Developed Countries (With Special Reference to Europe)
- Bhakta B. Gubhaju, Yoshie Moriki-Durand, Below-Replacement Fertility in East and Southeast Asia: Consequences and Policy Responses, 2003
- Bhakta Gubhaju, Fertility Decline in Asia: Opportunities and Challenges, 2006
- Alison McIntosh, Recent Pronatalist Policies in Western Europe, 2014
- Cabinet Office, Japan, Annual Report on the Declining Birthrate 2019
- Christoph Conrad, Michael Leachner, Welf Werner, “The Fall of the East German Birth Rate after Unification: Crisis or Means of Adaptation?, 1995
- Daniel Goodkind, The Population Averted By China’s Birth Restrictions, 1971-2060: Estimates, Nightmares, and Reprogrammed Ambitions, 2016
- Dudley Kirk, Great Britain Demographic Transition Theory, Population studies, 1996
- East West center, Below-replacement fertility in China: Policy response is long overdue. 2015
- East West center, Government response to low fertility in Japan, 2015
- East West center, Do pro-fertility policies in Singapore offer a model for other low-fertility countries in Asia?, 2015
- East West center, Can pro-natalist policies reverse the fertility decline in Taiwan Province of China?, 2015
- East West center, Low fertility, social rigidity and government policies in Italy, 2015
- Elizabeth Brainerd, Can government policies reverse undesirable declines in fertility?, 2014
- Entre Nous, Low Fertility-The Future of Europe?, 2006
- Laurent Toulemon Ariane Pailhé Clémentine Rossier, France: High and stable fertility
- Library of the European Parliament, Promoting fertility in the EU Social policy options for Member States, 2013
- Lương Quang Đảng, Mức sinh thấp: kinh nghiệm các nước trên thế giới, 2012
- Marie-Thérèse Letablie, Fertility and Family Policies in France, 2003
- Mary C.Brinton, Xiana Bueno, Livia Olah, Merete Hellum, Postidustrial Fertility Ideals, Intentions and Gender Inequality: A Comparative Qualitative analysis, 2018
- Martin Bujard, Consequences of Enduring Low Fertility – A German Case Study Demographic Projections and Implications for Different Policy Fields, 2015
- Martin Bujard, Family Policy and Demographic Effects: The case of Germany
- Minja Kim Choe, Robert D. Retherford,Seung-Kwon Kim Very low fertility in South Korea: Patterns and Prospects, 2004
- Mohammad Jalal Abbasi-Shavazi, Bhakta Gubhaju, Low Fertility in Asia: Pathways, Consequences and Policy Implications, 2013
- Nam-Hoon Cho, New Challenges for Low Fertility and Policy Responses in Korea
- Naohiro Ogawa, Robert Retherford, Rikiya Matsukura, The Emergence of Very Low Fertility in Japan: Changing Mechanisms and Policy Responses, 2006
- Gavin W. Jones, Recent fertility trends, policy responsesand fertility prospects in low fertilitycountries of East and Southeast Asia, Population Division, UN Expert PaperNo. 2011/5
- Gerda Neyer, Family Policies and Low Fertility in Western Europe, 2003
- Hans-Perter Kohler, Francesco Billari, José Antonio Ortega Low fertility in Europe: Cause, Implications and Policy options, 2006
- Ik Ki Kim, Policy responses to low fertility and population aging in Korea, UN Secretariat, 2000
- Joëlle E. Sleebos, Low Fertility Rates in OECD Countries: Facts and Policy Responses, 2003
- Jonathan Grant, Stijn Hoorens, Suja Sivadasan, Mirjam Van het Loo, Julie Davanzo, Lauren Hale, Shawna Gibson, William Butz Low fertility and population ageing: Causes, Consequences and policy options, 2004
- Joseph Chamie, UN, Low fertility: Can Governments make a difference?, 2004
- Joshua R. Goldstein Michaela Kreyenfeld, Has East Germany Overtaken West Germany? Recent Trends in Order-Specific Fertility, 2012
- Kamila Cygan-Rehm, Parental leave benefit and differential fertility responses: Evidence from a German reform, 2015
- Paris Achenbach & Moses Jackson, What Can Governments Do About Falling Birth Rates? 2014
- Olivier Thévenon, The influence of family policies on fertility in France: Lessons from the past and prospects for the future, 2016
- Paulin Tay STRAUGHAN, Very low fertility in Pacific Asian countries: Causesand policy responses, 2008
- People’s Daily Online China faces the challenges of low birth rate and ageing problem, 2011
- Peter Mc Donald, Very low fertility: Consequences, Cause and Policy Approades, 2008
- Peter Mc Donald, The Emergence of Low Fertility As a Policy Issue, 2007
- Population Reference Bureau, 2024 World Population data sheet
- RAND, Population Implosion? Low Fertility and Policy Responses in the European Union, 2005
- The Economist Intelligence Unit, Moving on from one How can China manage its declining fertility?, 2019
- The Economist Intelligence Unit, The disappearing workforce? Why countries in Southeast Asia need to think about fertility rates before it’s too late, 2019
- The Economist Intelligence Unit, Fertile ground: How can Japan raise its fertility rate?
- The Economist Group, Fertility policy and practice: the APAC Fertility and Family Scorecard 2023
- Sam-sik Lee, Minja Kim Choe, Policy Responses to Low Fertility and Aging Society, 2010
- Sam-Sik Lee, Low Fertility and Policy Responses in Korea, 2009
- Stuart Basten, Gu Baochang, National and regional trends in ideal family size in China, 2013
- Sidney Westley, Minja Kim Choe, Rorert D. Retherford Very low fertility in Asia is there a problem? Can it be solved?
- Sunha Myong, JungJae Park, Junjian Yi, Social Norms and Fertility
- UN, Partnership and Reproductive Behaviour in Low-Fertility Countries, 2003
- UN, World Fertility 2024
- UN, World Population Policies 2021
- UN, World Population Prospect: The 2024 Revision
- UNFPA, UNECE, The New Demographic Regime: Population Challenges and Policy Responses”, 2005
- Xinhua, China Focus: What can aging China do to encourage child birth? 2019
- Xizhe, Peng, Fertility transition in China: causes and trends
- Yong Cai, China’s Below-Replacement Fertility: Government Policy or Socioeconomic Development?, 2010
- Yoon-jeong Shin, Policy Response to Low Fertility in Korea: A Look throung OECD Indicators, 2018