Lịch làm việc theo ca, hạn chế về thời gian và chi phí, khó tiếp cận thông tin, cùng những lo ngại về quyền riêng tư và tâm lý e ngại đang tạo ra những rào cản đối với nữ công nhân trong tiếp cận chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS). Việc đưa thông tin, tư vấn và dịch vụ đến gần hơn với người lao động, đồng thời bảo đảm tính riêng tư và quyền chủ động lựa chọn, đang trở thành yêu cầu cần được quan tâm trong chăm sóc sức khỏe nữ công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất.

Các đại biểu tham dự lễ ký kết thỏa thuận giữa Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tại Việt Nam và Công ty TNHH Organon Việt Nam triển khai sáng kiến kéo dài 12 tháng nhằm nâng cao khả năng tiếp cận các biện pháp tránh thai hiện đại và dịch vụ sức khỏe sinh sản dành cho nữ công nhân tại các khu công nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh. (Ảnh: UNFPA)
Những rào cản trong tiếp cận chăm sóc sức khỏe sinh sản
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2023, Việt Nam có 304 khu công nghiệp đang hoạt động, sử dụng khoảng 4,16 triệu lao động; phụ nữ chiếm gần 60% lực lượng lao động này. Trong số lao động nữ, 66,8% ở độ tuổi từ 18 đến 29 và nhiều người là lao động di cư (theo một khảo sát năm 2019-2020 do Trường Đại học Y Hà Nội và các đối tác quốc tế thực hiện).
Những đặc điểm về cơ cấu lao động cho thấy, chăm sóc SKSS là một nội dung cần được quan tâm trong hệ thống hỗ trợ sức khỏe dành cho nữ công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất. Tuy nhiên, việc tiếp cận thông tin và dịch vụ SKSS của nhóm lao động này vẫn gặp nhiều khó khăn.
Một trong những trở ngại trước hết là thời gian. Đặc thù làm việc theo ca khiến công nhân không phải lúc nào cũng có điều kiện tiếp cận cơ sở y tế trong giờ hành chính. Khi thời gian nghỉ ngơi hạn chế, việc dành thời gian cho tư vấn hoặc thăm khám các vấn đề liên quan đến SKSS có thể trở nên khó khăn hơn.
Chi phí cũng là một yếu tố được đặt ra. Đối với người lao động, việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe không chỉ liên quan đến chi phí trực tiếp cho dịch vụ mà còn gắn với thời gian nghỉ làm và những điều kiện cần thiết để đến cơ sở y tế.
Bên cạnh đó là vấn đề thông tin và tâm lý. Những nội dung liên quan đến sức khỏe tình dục, tránh thai hay kế hoạch hóa gia đình có tính riêng tư cao. Tâm lý e ngại, lo lắng về quyền riêng tư hoặc sự kỳ thị có thể khiến một bộ phận nữ công nhân không chủ động tìm kiếm thông tin và dịch vụ khi có nhu cầu.
Trong khi đó, tại các khu công nghiệp, hầu như chưa có cơ sở y tế chuyên khoa. Điều này khiến khoảng cách giữa nhu cầu chăm sóc SKSS của người lao động và khả năng tiếp cận dịch vụ trở thành vấn đề cần được quan tâm.
Như vậy, thách thức đối với chăm sóc SKSS của nữ công nhân không chỉ nằm ở việc thiếu thông tin. Vấn đề còn liên quan đến khả năng tiếp cận dịch vụ phù hợp, đúng thời điểm, với chi phí và phương thức tiếp cận phù hợp với điều kiện làm việc của người lao động.
Đây cũng là lý do các giải pháp dành cho nữ công nhân cần tính đến đặc thù của nhóm lao động này, thay vì chỉ dựa vào các hình thức cung cấp thông tin và dịch vụ theo cách truyền thống.
Chính sách tạo cơ sở cho mở rộng dịch vụ
Chăm sóc SKSS cho người lao động trong độ tuổi sinh sản đã được đề cập trong các định hướng và chính sách của Đảng, Nhà nước, tạo cơ sở cho việc tăng cường chăm sóc sức khỏe đối với người lao động.
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” xác định mục tiêu xây dựng hệ thống y tế hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân, chú trọng nhóm lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất.
Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030, ban hành kèm theo Quyết định số 1679/QĐ-TTg ngày 22/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ, xác định mục tiêu nâng cao chất lượng dân số thông qua chăm sóc SKSS, sức khỏe tình dục toàn diện cho vị thành niên, thanh niên và người lao động trong độ tuổi sinh sản.
Đáng chú ý, Quyết định số 2899/QĐ-BYT ngày 30/9/2024 của Bộ Y tế phê duyệt Đề án “Tư vấn và cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất giai đoạn 2024-2030”, tạo cơ sở cho việc mở rộng các mô hình truyền thông, tư vấn SKSS tại nơi làm việc.
Quyết định số 1347/QĐ-BYT ngày 22/2/2021 của Bộ Y tế về Kế hoạch hành động quốc gia nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến năm 2030 cũng đề cập đến việc mở rộng dịch vụ lưu động và tư vấn trực tuyến tại các khu công nghiệp và khu chế xuất.
Các định hướng này cho thấy việc nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ SKSS cần đặt ra cả ở góc độ cung cấp kiến thức và gắn với việc đa dạng hóa phương thức cung cấp dịch vụ, phù hợp hơn với điều kiện của người lao động.
Trong bối cảnh đó, việc thử nghiệm những mô hình kết hợp giữa nghiên cứu, truyền thông, tư vấn và kết nối dịch vụ có thể cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho quá trình hoàn thiện các giải pháp chăm sóc SKSS tại khu công nghiệp là rất cần thiết.
Thử nghiệm mô hình tiếp cận dịch vụ ngoài giờ
Mới đây, chương trình Her Health Grants 2026 được UNFPA Việt Nam phối hợp với Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh thông qua Trung tâm Hỗ trợ Thanh niên Công nhân, Cục Dân số, Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh cùng các cơ quan liên quan, tổ chức Công đoàn và đại diện người sử dụng lao động tại các khu công nghiệp tham gia triển khai.
Với khoản hỗ trợ trị giá 99.000 USD từ Organon, sáng kiến được triển khai trong 12 tháng, tập trung nghiên cứu và thí điểm hỗ trợ SKSS ngoài giờ làm việc cho nữ công nhân tại các khu công nghiệp.
Sáng kiến là không chỉ tập trung vào cung cấp dịch vụ mà kết hợp xây dựng cơ sở bằng chứng, thí điểm mô hình cung cấp dịch vụ và hình thành mạng lưới nữ công nhân hỗ trợ lẫn nhau.
Ở hợp phần nghiên cứu, một nghiên cứu đánh giá thực trạng dự kiến khảo sát khoảng 1.000 nữ công nhân, kết hợp với thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn sâu với công nhân, người sử dụng lao động, tổ chức Công đoàn, cơ sở y tế và các bên liên quan. Nghiên cứu hướng tới việc xác định những rào cản liên quan đến giờ làm việc, chi phí, quyền riêng tư và quan niệm xã hội, từ đó cung cấp cơ sở cho các khuyến nghị chính sách.
Ở hợp phần cung cấp dịch vụ, sáng kiến sẽ thí điểm mô hình dịch vụ ngoài giờ tại một số khu công nghiệp được lựa chọn. Phòng khám lưu động và các điểm tư vấn dự kiến hoạt động theo hai ca mỗi ngày, nhằm tạo thêm lựa chọn về thời gian cho người lao động.
Việc ứng dụng công nghệ cũng được đưa vào mô hình. Công nhân có thể sử dụng mã QR để tiếp cận thông tin nhanh chóng và bảo đảm sự riêng tư. Tư vấn và hỗ trợ sau tư vấn được cung cấp theo cả hình thức trực tuyến và trực tiếp.
Việc tư vấn và kết nối nữ công nhân với các cơ sở cung cấp dịch vụ phù hợp sẽ tuân thủ quy trình chuẩn được thống nhất giữa các bên. Sáng kiến phối hợp với các cơ sở y tế đủ điều kiện để kết nối nữ công nhân với các dịch vụ phù hợp và hỗ trợ tiếp cận nhiều biện pháp tránh thai hiện đại, bao gồm các biện pháp tránh thai tác dụng ngắn và các biện pháp tránh thai tác dụng kéo dài nhưng có thể ngừng sử dụng khi có nhu cầu.
Trong mô hình này, bảo mật thông tin và bảo đảm phụ nữ được cung cấp đầy đủ thông tin để tự đưa ra lựa chọn được xác định là nguyên tắc cốt lõi.
Một hợp phần khác là xây dựng mạng lưới nữ công nhân hỗ trợ lẫn nhau. Một số nữ công nhân sẽ được lựa chọn và tập huấn để trở thành Đại sứ kết nối Sức khỏe sinh sản tại nơi làm việc. Những người này có nhiệm vụ chia sẻ thông tin chính xác, hỗ trợ đồng nghiệp và kết nối họ với các dịch vụ phù hợp ngay tại nơi làm việc.
Cách tiếp cận này hướng tới việc giảm thiểu thông tin sai lệch và sự kỳ thị, đồng thời tạo thêm một kênh để nữ công nhân tiếp cận các nguồn hỗ trợ đáng tin cậy.
Theo bà Võ Thị Thúy Hà, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Organon Việt Nam, nhiều nữ công nhân tại các khu công nghiệp vẫn gặp rào cản về thời gian, điều kiện làm việc, khả năng tiếp cận thông tin và các dịch vụ SKSS phù hợp. Việc triển khai sáng kiến nhằm góp phần đưa thông tin và dịch vụ đến gần hơn với phụ nữ ngay tại nơi họ sinh sống và làm việc, đồng thời kỳ vọng những kinh nghiệm và kết quả từ dự án có thể tạo cơ sở cho các giải pháp, mô hình được mở rộng trong tương lai.
ông Matt Jackson, Trưởng Đại diện UNFPA tại Việt Nam khẳng định: lịch làm việc theo ca, chi phí và lo ngại về quyền riêng tư thường hạn chế khả năng tiếp cận thông tin về tránh thai và dịch vụ chăm sóc SKSS của nữ công nhân. Sáng kiến hướng tới thu thập dữ liệu và bằng chứng thực tiễn, cung cấp tư vấn ngoài giờ cùng các hình thức hỗ trợ trực tuyến và trực tiếp trên nguyên tắc bảo mật, đồng thời tăng cường kết nối với các cơ sở y tế đủ điều kiện.
Mục tiêu được đặt ra là giúp phụ nữ có đầy đủ thông tin để chủ động đưa ra quyết định về sức khỏe, đồng thời tạo thêm cơ sở thực tiễn cho hoạch định chính sách và mở rộng triển khai tại các khu công nghiệp trong tương lai.
Từ góc độ chính sách, sáng kiến được xác định phù hợp với định hướng của Quyết định số 1347/QĐ-BYT của Bộ Y tế về Kế hoạch hành động quốc gia nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến năm 2030, trong đó có việc mở rộng dịch vụ lưu động và tư vấn trực tuyến tại các khu công nghiệp và khu chế xuất.
Việc nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá các mô hình như Her Health Grants 2026 có thể cung cấp thêm bằng chứng thực tiễn cho quá trình hoàn thiện chính sách và phương thức cung cấp dịch vụ. Đây cũng là cơ sở để xem xét khả năng mở rộng những mô hình phù hợp, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận chăm sóc SKSS cho nữ công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất.
THẢO VÂN