Nghị định số 168/2026/NĐ-CP: Cụ thể hóa nhiều chính sách quan trọng của Luật Dân số

Ngày 15/5/2026 Chính phủ ban hành Nghị định số 168/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dân số. Đây là văn bản quan trọng nhằm thể chế hóa các chính sách lớn của Luật Dân số, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ để triển khai hiệu quả công tác dân số trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước trước những biến động sâu sắc về quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số.

Nghị định quy định chi tiết về:

– Điều kiện, thủ tục hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ 2; mức hỗ trợ tài chính và trình tự, thủ tục việc thực hiện hỗ trợ tài chính khi sinh con theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Dân số;

– Chăm sóc người cao tuổi tại nhà, chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 18 Luật Dân số;

– Phạm vi, đối tượng, mức hỗ trợ khám sàng lọc một số bệnh tật bẩm sinh trước sinh và sơ sinh theo lộ trình ưu tiên quy định tại điểm a khoản 2 Điều 21 Luật Dân số;

– Chính sách, chế độ đối với cộng tác viên dân số theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Luật Dân số.

Một trong những điểm nổi bật của Nghị định là việc cụ thể hóa chính sách hỗ trợ tài chính khi sinh con trong bối cảnh nhiều địa phương đang đối mặt với mức sinh thấp kéo dài. Theo đó, mức hỗ trợ tài chính tối thiểu là 2.000.0000 đồng/ phụ nữ kể từ ngày 1/7/2026, khi sinh thuộc các trường hợp là: phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người; phụ nữ ở các tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế; phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi.

Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, Nghị định cũng đưa ra các nội dung, hình thức về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thích ứng với già hóa dân số. Các hình thức chăm sóc người cao tuổi bao gồm: Chăm sóc người cao tuổi tại nhà; câu lạc bộ chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng; điểm chăm sóc người cao tuổi ban ngày tại cộng đồng.

Nội dung chăm sóc người cao tuổi gồm: Hướng dẫn kiến thức, kỹ năng chăm sóc, phòng bệnh; hướng dẫn tự chăm sóc bản thân khi mắc một số bệnh thường gặp; phát hiện sớm nguy cơ bệnh thường gặp; hỗ trợ nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần; tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, dưỡng sinh; tổ chức hoạt động phát huy vai trò người cao tuổi. Đối tượng tham gia chăm sóc được xác định là những người thân trong gia đình; người giúp việc gia đình; tình nguyện viên chăm sóc người cao tuổi; nhân viên y tế xã, cộng tác viên dân số, nhân viên y tế thông bản, nhân viên công tác xã hội. Quy định này là những hướng dẫn quan trọng để Việt Nam triển khai các giải pháp thích ứng với già hóa dân số.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định rõ phạm vi, đối tượng, mức hỗ trợ tài chính, phương thức thực hiện, lộ trình ưu tiên khám sàng lọc một số bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh. Theo đó, phụ nữ mang thai được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc trước sinh đủ 04 bệnh cơ bản: Hội chứng Down, hội chứng Edwards, hội chứng Patau, bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh); trẻ sơ sinh được khám và thực hiện các phương pháp sàng lọc sơ sinh đủ 05 bệnh cơ bản: Suy giáp trạng bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản thượng thận bẩm sinh, khiếm thính bẩm sinh, bất thường tim bẩm sinh nặng. Đây được xem là giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dân số, phát hiện sớm và can thiệp kịp thời các bệnh, tật bẩm sinh, góp phần giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Nghị định ban hành định mức thù lao hằng tháng đối với cộng tác viên dân số nhằm cụ thể hóa chính sách, chế độ cho cộng tác viên dân số, đồng thời cũng thể hiện vai trò quan trọng của đội ngũ cộng tác viên trong công tác dân số.

Nghị định đồng thời phân công rõ trách nhiệm của các bộ, nghành, địa phương trong tổ chức thực hiện; tăng cường phối hợp liên nghành, huy động sự tham gia của toàn xã hội nhằm triển khai hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ về dân số và phát triển.

Việc ban hành Nghị định số 168/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026, không chỉ góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý triển khai Luật Dân số mà còn tạo điều kiện để các bộ, ngành, địa phương thống nhất trong tổ chức thực hiện các chính sách dân số. Qua đó, từng bước chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển, thích ứng với xu hướng già hóa dân số, mức sinh chênh lệch giữa các vùng miền và yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong giai đoạn mới.

Nghị định được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân số, bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ dân số cho người dân, đồng thời tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững, hướng tới mục tiêu xây dựng một xã hội phát triển hài hòa, chất lượng dân số ngày càng được nâng cao.

TRÍ DŨNG

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *