Quy mô, phân bố dân số và hôn nhân của các dân tộc thiểu số

Quy mô, phân bố dân số và hôn nhân của các dân tộc thiểu số

Điều tra 53 DTTS năm 2024 thu thập thông tin về dân số, điều kiện nhà ở và điều kiện kinh tế - xã hội của hộ DTTS nhằm phản ánh thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS; phục vụ biên soạn các chỉ tiêu thống kê thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và Hệ thống chỉ tiêu thống kê về công tác dân tộc phục vụ việc xây dựng và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho các vùng DTTS theo Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030. Dưới đây là thông tin về dân số và các đặc trưng nhân khẩu học của các dân tộc thiểu số.

1. Quy mô và phân bố dân số

1.1 Quy mô dân số

Tại thời điểm 01/4/2024, dân số Việt Nam đạt 101,1 triệu người, trong đó dân tộc Kinh có 86,3 triệu người, chiếm 85,4% tổng dân số cả nước; 53 DTTS còn lại có 14,8 triệu người, chiếm 14,6% tổng dân số cả nước. Sau 10 năm, từ năm 2014 đến năm 2024, quy mô dân số của 53 DTTS đã tăng khoảng 1,87 triệu người. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2014- 2024 của các DTTS là 1,35%, cao hơn tỷ lệ tăng bình quân năm của dân tộc Kinh (1,07%) và tỷ lệ tăng bình quân năm của dân số cả nước (1,11%).

Hình 1. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm của dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số giai đoạn 2014 - 2024

Đơn vị tính: %

Trong tổng số 14,8 triệu người DTTS, nam giới là 7,41 triệu người, chiếm 50,1%, nữ giới là 7,39 triệu người, chiếm 49,9%. Các DTTS chủ yếu đông dân nhất lần lượt là Thái (1.995 nghìn người), Tày (1.888 nghìn người), Mông (1.521 nghìn người), Mường (1.485 nghìn người), Khmer (1.379 nghìn người), Nùng (1.125 nghìn người), Dao (925 nghìn người).

Vùng Trung du và miền núi phía Bắc là địa bàn sinh sống chủ yếu của người DTTS với 50,2% tổng số người DTTS (tương đương khoảng 7,4 triệu người) đang cư trú, tập trung đông ở các tỉnh như Sơn La, Hà Giang, Lạng Sơn, Hòa Bình, Điện Biên, Cao Bằng, Lào Cai. Người DTTS sinh sống ở Trung du và miền núi phía Bắc phần lớn là người dân tộc Thái, Tày, Mông, Mường, Nùng và Dao. Ngoài ra, Tây Nguyên cũng là vùng tập trung đông người DTTS với 15,8% tổng số người DTTS (tương đương 2,3 triệu người), chủ yếu là người dân tộc Gia Rai, Ê Đê, Ba Na và Cơ Ho.

Biểu 1. Số người DTTS theo thành thị, nông thôn và vùng kinh tế - xã hội

Đơn vị tính: Người

1.2 Quy mô hộ

Tính đến thời điểm 01/4/2024, số hộ DTTS là 3,88 triệu hộ, chiếm 13,8% tổng số hộ của cả nước. Phần lớn các hộ DTTS sống ở khu vực nông thôn, chiếm 80,3%, tương đương với gần 3,1 triệu hộ. Số hộ DTTS ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc chiếm tỷ trọng cao nhất (47,6%), tiếp đến là Tây Nguyên (13,8%) và Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (13,4%) và Đồng bằng sông Hồng là vùng có ít hộ đồng bào DTTS sinh sống nhất (5,5%).

Quy mô hộ phổ biến của 53 DTTS là từ 2 đến 4 người/hộ, chiếm 58,0% tổng số hộ DTTS. Tỷ lệ hộ độc thân (hộ 1 người) tăng 1,3 điểm phần trăm so với năm 2019 (6,9% so với 5,6%); hộ từ 7 người trở lên chiếm 8,1% tổng số hộ. Một số dân tộc có tỷ lệ hộ từ 7 người trở lên cao như: Mông (21,7%), Lô Lô (16,9%), Mảng (16,2%), Khơ mú, La Chí và Ê Đê (đều chiếm 13,8%).

1.3 Tỷ số giới tính

Tỷ số giới tính của dân số được tính bằng dân số nam trên 100 dân số nữ. Kết quả Điều tra DSGK 2024 cho thấy, tỷ số giới tính của 53 DTTS là 100,3 nam/100 nữ, cao hơn tỷ số giới tính của cả nước (99,2 nam/100 nữ) và tỷ số giới tính của dân tộc Kinh (99,0 nam/100 nữ). Tỷ số giới tính của 53 DTTS có sự khác biệt theo các nhóm tuổi, đạt cao nhất ở nhóm 30- 39 tuổi (107,2 nam/100 nữ). Tỷ số giới tính của 53 DTTS gần như cân bằng ở nhóm 40-49 tuổi (100,7 nam/100 nữ) và bắt đầu giảm xuống ở nhóm 50-59 tuổi (95,0 nam/100 nữ) và thấp nhấp ở nhóm từ 80 tuổi trở lên (49,7 nam/100 nữ)

Các DTTS có tỷ số giới tính cao như: Bố Y (122,7 nam/100 nữ), La Ha (117,6 nam/100 nữ), Ngái (114,5 nam/100 nữ), Chứt (111,7 nam/100 nữ) và Hoa (111,3 nam/100 nữ). Trong khi đó, một số dân tộc có tỷ số giới tính khá thấp như: Si La (46,1 nam/100 nữ), Brâu (87,2 nam/100 nữ), Cống (89,9 nam/100 nữ), Cơ Lao (90,6 nam/100 nữ), Mạ (92,8 nam/100 nữ).

1.4 Phân bố dân số thành thị và nông thôn

Theo kết quả Điều tra DSGK 2024, có khoảng 2,3 triệu người DTTS sống ở khu vực thành thị, tương đương với 15,3% tổng số người DTTS. Số người DTTS sống ở khu vực nông thôn là khoảng 12,5 triệu người, tương đương với 84,7%.

Dân tộc Si La, Hoa, Ngái, Bố Y, Ơ Đu, Pu Péo, Khmer là những DTTS có tỷ lệ dân số sống ở khu vực thành thị cao nhất, lần lượt là 88,5%, 70,0%, 58,8%, 49,7%, 40,5%, 28,7% và 26,1%; trong đó, dân tộc Hoa và Khmer chủ yếu sinh sống ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Các DTTS có tỷ lệ dân số sống ở khu vực thành thị thấp nhất là: Xinh Mun (0,1%), La Hủ (0,3%), Kháng (0,6%), La Ha (0,6%), đây đều là những DTTS đang cư trú tại các tỉnh miền núi phía Bắc.

Hình 2. Phân bố dân số thành thị, nông thôn, thời điểm 01/4/2024

Đơn vị tính: %

1.5 Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi và giới tính

Tỷ trọng dân số theo nhóm tuổi

Số liệu về tỷ trọng dân số theo 03 nhóm tuổi (dưới 15 tuổi, 15-64 tuổi và từ 65 tuổi trở lên) của 53 DTTS và của dân số cả nước tính đến 01/4/2024 cho thấy tỷ trọng trẻ em dưới 15 tuổi của 53 DTTS cao hơn hẳn so với toàn quốc, điều này cho thấy mức sinh của của 53 DTTS cao hơn mức sinh chung của toàn bộ dân số Việt Nam, ngược lại tỷ trọng nhóm người cao tuổi lại thấp hơn cả  nước hay nói cách khác là mức độ già hóa dân số của 53 DTTS sẽ chậm hơn mức độ già hóa dân số của cả nước.

Biểu 2. Tỷ trọng dân số theo nhóm tuổi của 53 dân tộc thiểu số và của dân số

Đơn vị tính: %

Tỷ số phụ thuộc

Tỷ số phụ thuộc là chỉ tiêu phản ánh gánh nặng của dân số trong độ tuổi lao động. Tỷ số phụ thuộc chung biểu thị phần trăm của dân số dưới 15 tuổi và từ 65 tuổi trở lên trên 100 người ở nhóm tuổi 15-64. Trong đó, tỷ số phụ thuộc trẻ em biểu thị phần trăm của dân số dưới 15 tuổi trên 100 người ở nhóm tuổi 15-64 và tỷ số phụ thuộc người già biểu thị phần trăm của dân số từ 65 tuổi trở lên trên 100 người ở nhóm tuổi 15-64.

Biểu 3. Tỷ số phụ thuộc của 53 DTTS và của dân số cả nước

Đơn vị tính: %

Kết quả Điều tra DSGK 2024 cho thấy, tỷ số phụ thuộc chung của 53 DTTS cao hơn tỷ số phụ thuộc chung của dân số toàn quốc, trong đó tỷ số phụ thuộc trẻ em của 53 DTTS cao hơn khá nhiều so với tỷ số phụ thuộc trẻ em của dân số toàn quốc (cao hơn 9,6 điểm phần trăm), ngược lại tỷ số phụ thuộc người già của 53 DTTS thấp hơn tỷ số phụ thuộc người già của toàn quốc (thấp hơn 4,9 điểm phần trăm). Điều này là do 53 DTTS có mức sinh cao hơn mức sinh chung của cả nước và tuổi thọ trung bình thấp hơn tuổi thọ trung bình chung của cả nước, dẫn đến tỷ trọng dân số trẻ (dưới 15 tuổi) của 53 DTTS cao hơn so với tỷ trọng dân số trẻ toàn quốc và tỷ trọng dân số già trên 65 tuổi của 53 DTTS thấp hơn tỷ trọng này của toàn quốc.

2. Hôn nhân

Hôn nhân là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng sự phát triển của dân số. Trong cuộc Điều tra 53 DTTS năm 2024, thông tin về tình trạng hôn nhân được thu thập cho những người từ 10 tuổi trở lên để thu thập thông tin tính toán các chỉ tiêu về tình trạng tảo hôn và kết hôn cận huyết thống. Tình trạng hôn nhân với các phân tổ gồm: chưa vợ/chưa chồng; có vợ/có chồng; góa; ly hôn; ly thân. Các phân tổ này sau đó có thể phân loại thành hai nhóm chính: “Đã từng kết hôn” và “Chưa từng kết hôn”. Nhóm thứ nhất “Đã từng kết hôn” là những người đã từng kết hôn ít nhất một lần tính đến thời điểm điều tra, tức là những người thuộc một trong bốn phân tổ: Hiện đang có vợ/có chồng, góa, ly hôn hoặc ly thân. Nhóm thứ hai “Chưa từng kết hôn” là những người chưa vợ/chưa chồng tính đến thời điểm điều tra.

2.1 Tình trạng hôn nhân

Kết quả Điều tra 53 DTTS năm 2024 cho thấy, tỷ lệ người DTTS từ 15 tuổi trở lên đã từng kết hôn là 77,3%, cao hơn tỷ lệ chung của dân số cả nước (74,9%). Một số DTTS có tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã từng kết hôn cao như: Pà Thẻn (83,8%), Lự (82,9%), La Chí (82,7%). Dân tộc Hoa, Chơ Ro, Ơ Đu là những dân tộc có tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên kết hôn thấp nhất, lần lượt là 59,8%, 65,2% và 66,1%.

Đối với đồng bào DTTS, tình trạng ly hôn là không phổ biến với tỷ lệ người DTTS từ 15 tuổi trở lên đã ly hôn là 1,9%. Dân tộc Cơ Lao có tỷ lệ ly hôn thấp nhất (0,6%), các dân tộc như Cơ Tu, Rơ Măm, Mông cũng có tỷ lệ ly hôn rất thấp (0,8%).

Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của người DTTS năm 2024 là 20,9 tuổi, thấp hơn so với mức trung bình chung của toàn bộ dân số (27,3 tuổi) và tương đương so với năm 2015 (21 tuổi). Dân tộc Mông kết hôn lần đầu sớm nhất (18,7 tuổi), tiếp đến là Xinh Mun (18,8 tuổi), La Hủ (19,0 tuổi). Dân tộc Hoa có tuổi kết hôn trung bình lần đầu cao nhất (24,1 tuổi).

2.2 Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống

Trong Điều tra 53 DTTS năm 2024, tỷ lệ tảo hôn và tỷ lệ kết hôn cận huyết thống được tính toán cho những người DTTS kết hôn trong năm 2023.

Tỷ lệ tảo hôn của người DTTS năm 2023 là 14,8%. So với năm 2018, tỷ lệ tảo hôn giảm 7,1 điểm phần trăm, tức giảm trung bình hơn 1,4%/năm, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu “giảm bình quân 2% - 3%/năm số cặp tảo hôn” theo Đề án Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng DTTS giai đoạn 2015-202510. Dân tộc Mông có tỷ lệ tảo hôn cao nhất với 35,9%, tiếp đến là dân tộc Xinh Mun (29,2%). Một số dân tộc có tỷ lệ tảo hôn thấp (dưới 3%) như: Hoa, Sán Chay, Chu ru.

Mặc dù tình trạng tảo hôn của người DTTS có sự cải thiện đáng kể, tỷ lệ tảo hôn vẫn ở mức cao ở những vùng tập trung nhiều đồng bào DTTS sinh sống như Tây Nguyên với 18,8% số người bước vào hôn nhân khi chưa đủ tuổi kết hôn, tiếp đó là Trung du và miền núi phía Bắc (16,1%).

Kết quả điều tra cũng cho thấy, chỉ có 11,3% người DTTS tảo hôn có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trong khi tỷ lệ có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở nhóm người DTTS không tảo hôn cao gấp 3,3 lần (37,3%). Vì vậy, cần có các chính sách nhằm nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật cho đồng bào DTTS từ đó góp phần giảm thiểu các hủ tục lạc hậu trong vùng đồng bào DTTS trong đó có tình trạng tảo hôn.

Tình trạng hôn nhân cận huyết thống đã giảm rất nhanh trong 10 năm trở lại đây. Tỷ lệ người DTTS kết hôn cận huyết thống năm 2023 là 3,7‰, giảm 1,9 điểm phần nghìn so với năm 2018 (5,6‰), giảm 2,8 điểm phần nghìn so với năm 2014 (6,5‰). Một số ít DTTS có tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống còn khá cao như: Chăm (49,0‰); Mạ (29,3‰); Thổ (15,0‰); Mnông (13,1‰), Khơ Mú (10,3‰); Hà Nhì (10,0‰).

Hình 3. Tỷ lệ kết hôn cận huyết thống của một số dân tộc thiểu số năm 2023

Đơn vị tính: ‰

Như vậy có thể thấy, sau 10 năm, từ năm 2014 đến năm 2024, quy mô dân số của 53 DTTS đã tăng khoảng 1,87 triệu người. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2014-2024 của các DTTS là 1,35%, cao hơn tỷ lệ tăng bình quân năm của dân tộc Kinh (1,07%) và tỷ lệ tăng bình quân năm của dân số cả nước (1,11%). Mức sinh ở nhiều nhóm dân tộc vẫn duy trì ở mức cao; một số địa bàn còn ghi nhận tình trạng kết hôn sớm, hôn nhân cận huyết, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng dân số.

 

 

TIN KHÁC