TS. Nguyễn Thị Quỳnh Hoa[1]
1. Đặt vấn đề
Sức khỏe tâm thần (SKTT) là một bộ phận không thể tách rời của sức khỏe con người, phản ánh trạng thái khỏe mạnh về cảm xúc, tâm lý và xã hội, giúp mỗi cá nhân nhận thức được năng lực của bản thân, ứng phó hiệu quả với những căng thẳng trong cuộc sống, học tập, lao động và đóng góp tích cực cho cộng đồng. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và những biến động sâu sắc về kinh tế – xã hội, SKTT đang trở thành một trong những vấn đề sức khỏe cộng đồng được quan tâm hàng đầu, đặc biệt đối với nhóm thanh thiếu niên (TTN) – giai đoạn phát triển có nhiều thay đổi mạnh mẽ về thể chất, tâm lý, nhận thức và các mối quan hệ xã hội. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2025), khoảng 1/7 TTN từ 10–19 tuổi đang sống chung với một rối loạn tâm thần; trầm cảm, lo âu và các rối loạn hành vi là những nguyên nhân hàng đầu gây gánh nặng bệnh tật ở nhóm tuổi này, trong khi nhiều trường hợp chưa được phát hiện và can thiệp kịp thời.
Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy các vấn đề về SKTT ở TTN có xu hướng gia tăng cả về quy mô và mức độ phức tạp. Áp lực học tập, kỳ vọng của gia đình, khó khăn trong các mối quan hệ, bạo lực học đường, bạo lực trên không gian mạng, tác động của mạng xã hội, bất bình đẳng kinh tế, các biến cố trong gia đình, cùng với những ảnh hưởng kéo dài sau đại dịch COVID-19 đã làm gia tăng nguy cơ xuất hiện các vấn đề như căng thẳng, lo âu, trầm cảm, rối loạn cảm xúc, hành vi tự hủy hoại và nhiều rối loạn tâm thần khác ở TTN. Các vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập, chất lượng cuộc sống và sự phát triển nhân cách mà còn có thể kéo dài sang tuổi trưởng thành, làm gia tăng gánh nặng đối với gia đình, hệ thống y tế và toàn xã hội.
Trên cơ sở tổng hợp và phân tích các kết quả nghiên cứu đã công bố ở trong và ngoài nước, bài viết nhận diện những vấn đề SKTT phổ biến của TTN thời gian qua cũng như các yếu tố nguy cơ đã được minh chứng từ bằng chứng nghiên cứu, từ đó góp phần làm rõ những vấn đề cần ưu tiên trong công tác phòng ngừa, phát hiện sớm và can thiệp đối với SKTT của TTN thời gian tới.

Ảnh minh họa.
2. Vài nét về vấn đề sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên qua các kết quả nghiên cứu
Các kết quả nghiên cứu cách đây khoảng 10 năm cho thấy tỷ lệ rối loạn tâm thần ở trẻ em và TTN trên toàn thế giới là 13,4%, rối loạn lo âu 6,5%, rối loạn trầm cảm 2,6%, rối loạn tăng động giảm chú ý 3,4% và bất kỳ rối loạn bướng bỉnh chống đối 5,7% (Polanczyk GV, Salum GA, Sugaya LS, Caye A, Rohde LA, 2015).
Đến những năm gần đây, có khoảng 15% trẻ em và TTN trên thế giới mắc rối loạn tâm thần và các bệnh lý tâm thần kinh là nguyên nhân hàng đầu gây khuyết tật ở trẻ (Campbell, Bann, Patalay, 2021).
Thống kê của Hoa kỳ năm 2020 ở trẻ vị thành niên độ tuổi từ 13-18 cho thấy có 49,5% có rối loạn tâm thần. Đối với TTN, trầm cảm, sử dụng chất gây nghiện và tự sát là những mối quan tâm quan trọng, 4,1% có sử dụng chất, 18,8% cân nhắc về toan tự sát, 15,7% lên kế hoạch tự sát, 8,9% có toan tự sát, 2,5% có toan tự sát cần can thiệp y tế (NIMH, 2022).
Có một khoảng cách đáng kể về giới tính của trẻ vị thành niên trong các vấn đề có liên quan đến SKTT, theo đó trẻ em gái có SKTT trung bình kém hơn trẻ em trai (Campbell, Bann, Patalay, 2021). Trẻ em trai có tỉ lệ rối loạn hành vi cao hơn và trẻ em gái có tỉ lệ các vấn đề cảm xúc như lo âu và trầm cảm cao hơn. (UNICEF, 2021a).
Dù các vấn đề về SKTT đối với TTN có thể xảy ra trước COVID-19 nhưng đại dịch đã làm trầm trọng thêm những thách thức về SKTT xuất hiện trước đó. TTN thuộc các hoàn cảnh khác nhau trên toàn thế giới đang trải qua tỉ lệ lo âu, trầm cảm và căng thẳng cao hơn do đại dịch (Jones, Mitra và Bhuiyan, 2021).
Tại Việt Nam, tổng quan các bằng chứng về SKTT ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc các vấn đề SKTT đối với trẻ em và vị thành niên dao động từ 8-29% và khác nhau theo tỉnh, giới tính, đặc điểm người trả lời và tùy thuộc vào phương pháp nghiên cứu. Một khảo sát dịch tễ học trên mẫu đại diện quốc gia của 10 trong số 63 tỉnh/thành cũ cho thấy tỷ lệ trung bình các vấn đề SKTT trẻ em khoảng 12%. Các vấn đề SKTT ở trẻ em Việt Nam bao gồm cả các vấn đề hướng nội (lo âu, trầm cảm, đơn độc) và các vấn đề hướng ngoại (tăng động, giảm chú ý) (UNICEF, ODI, 2017). Đáng chú ý, các vấn đề với bạn bè cùng trang lứa (ví dụ trải nghiệm bị bắt nạt), các vấn đề về cảm xúc (các triệu chứng trầm cảm và lo âu) và các vấn đề về hành vi là những thách thức phổ biến nhất đối với trẻ vị thành niên (UNICEF, 2021a).
Một số kết quả nghiên cứu trước đây cũng đưa ra những con số đáng quan tâm. Từ 12-40% TTN ở Việt Nam mắc các vấn đề về SKTT (Weiss, Dang, Trung, et al., 2014; Nguyen, Dedding, Pham, et al., 2013). Ở trẻ em trai, rối loạn hành vi là nguyên nhân thứ hai gây ra khuyết tật ở trẻ 10-14 tuổi và là nguyên nhân thứ 5 gây ra khuyết tật ở trẻ em trai ở độ tuổi 15- 19 tuổi. Trẻ em gái phải đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến SKTT như rối loạn hành vi và rối loạn lo âu. Cả hai đều là nguyên nhân hàng đầu gây ra khuyết tật ở trẻ 10-14 tuổi và rối loạn trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu gây ra khuyết tật ở trẻ em trai 15-19 tuổi (UNICEF, 2019). Sự kém hiểu biết về các vấn đề SKTT, sự kỳ thị của xã hội, sự hạn chế các dịch vụ và nguồn lực về SKTT góp phần khiến cho hầu hết những trẻ này không được điều trị hoặc hỗ trợ kịp thời.
Những kết quả nghiên cứu gần đây tiếp tục cho thấy các vấn đề SKTT vẫn đang là gánh nặng đáng kể đối với TTN ở Việt Nam. Kết quả điều tra SKTT vị thành niên Việt Nam thực hiện năm 2021 trên 5.996 đối tượng vị thành niên 10-17 tuổi trong một mẫu hộ gia đình đại diện toàn quốc ở Việt Nam cho thấy: trong 12 tháng trước thời điểm khảo sát, 1/5 số trẻ vị thành niên Việt Nam (21,7%) có vấn đề về SKTT trong đó 1/30 có các tiêu chí của một rối loạn tâm thần (3,3%). Lo lắng là vấn đề SKTT phổ biến nhất (18,6%), tiếp theo là trầm cảm (4,3%). Trong 12 tháng trước thời điểm khảo sát, chỉ 8,4% vị thành niên có vấn đề về SKTT đã tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ hoặc tư vấn cho các vấn đề về cảm xúc và hành vi. Chỉ 5,1% cha mẹ vị thành niên xác định rằng trong 12 tháng trước thời điểm khảo sát, con của họ cần được giúp đỡ đối với các vấn đề về cảm xúc và hành vi, mặc dù 21,7% vị thành niên đã gặp phải vấn đề SKTT trong cùng thời kỳ. Đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng đến cuộc sống của vị thành niên, với 7,7% vị thành niên cho biết trong thời gian đại dịch COVID-19 họ thường xuyên gặp ít nhất một vấn đề về cảm xúc hoặc hành vi nhiều hơn bình thường (V-NAMHS, 2022).
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2023) cho thấy, trong 12 tháng kể từ thời điểm khảo sát, hơn 1/2 TTN được hỏi (56,4%) cảm nhận có vấn đề về SKTT, trong đó thanh niên (59,6%) cảm nhận có vấn đề về SKTT nhiều hơn so với thiếu niên (46,1%). Nữ TTN cảm nhận có vấn đề về SKTT (61,8%) nhiều hơn nam TTN (50,3%). TTN càng nhiều tuổi càng cảm nhận có vấn đề SKTT nhiều hơn, tỉ lệ này ở TTN 10-15 tuổi, 16-24 tuổi, 25-30 tuổi lần lượt là 46,1%- 58,1%- 61,5%. TTN ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh cảm nhận có vấn đề về SKTT nhiều hơn (tỉ lệ tương ứng 64,4%- 61,9%) so với TTN ở các tỉnh, thành khác (tỉ lệ tương ứng ở Phú Yên và Cần Thơ là 50,0%- 49,4%).
Xét theo từng đối tượng, thiếu niên cảm nhận các biểu hiện SKTT xuất hiện trong 12 tháng qua chủ yếu là các vấn đề liên quan đến lo âu, căng thẳng (28,0%- 48,7%) và các biểu hiện về hành vi (thiếu tập trung, chán ăn, mất ngủ) (32,2%- 43,1%). Trong khi thanh niên cảm nhận các biểu hiện SKTT xuất hiện trong 12 tháng qua chủ yếu là các biểu hiện rối loạn về hành vi (thiếu tập trung, mất ngủ, khó ngủ, đãng trí, hay quên) (22,7%- 46,7%) và các vấn đề liên quan đến lo âu (32,3%- 33,0%), căng thẳng (22,5%- 32,9%).
Nguyên nhân khiến sự căng thẳng xuất hiện ở thiếu niên chủ yếu là do áp lực trong học tập, thi cử (41,8%), áp lực từ mong đợi, kỳ vọng của cha mẹ (29,3%), do thói quen sống, sinh hoạt không phù hợp (40,3%), sử dụng thiết bị điện tử, mạng xã hội quá nhiều (18,6%), bị ảnh hưởng bởi Covid-19 (24,7%) hay xuất phát từ những bất hòa trong mối quan hệ giữa thiếu niên với bạn bè, thầy cô ở trường hoặc với người thân trong gia đình (23,2%). Trong khi nguyên nhân khiến sự căng thẳng xuất hiện ở thanh niên chủ yếu là do: áp lực trong công việc, cuộc sống (42,4%), áp lực từ kỳ vọng, mong đợi của người lãnh đạo, quản lý (22,3%), áp lực từ mong đợi, kỳ vọng của người thân (29,0%), do đặc điểm, tính chất công việc (21,9%), sự xuất hiện các vấn đề về hành vi (thiếu tập trung, mất ngủ, chán ăn) là do sử dụng thiết bị điện tử, mạng xã hội quá nhiều (42,5%), do bị ảnh hưởng bởi Covid-19 (36,7%) và thói quen sống, sinh hoạt không phù hợp (33,0%) (Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, 2023).
Đáng chú ý, nhóm TTN là học sinh, sinh viên phải trải qua một gánh nặng đáng kể về các rối loạn tâm thần. Nghiên cứu về phong cách của cha mẹ và các vấn đề SKTT của học sinh trung học ở Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh cho biết có 16,4% trong số 757 học sinh tham gia khảo sát gặp các vấn đề về SKTT (La và cộng sự, 2020). Nguy cơ mắc các vấn đề SKTT ở TTN là học sinh, sinh viên đã tăng từ khoảng 17,6% trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát lên 30,4% trong thời kỳ khủng hoảng của đại dịch COVID-19. Rối loạn tâm thần, các triệu chứng của rối loạn lo âu tổng quát, tăng động và các vấn đề với bạn bè đồng trang lứa cũng tăng lên. Nhìn chung, chất lượng cuộc sống của TTN là học sinh, sinh viên được đánh giá là tồi tệ hơn so với trước đại dịch (Marion Felder và các cộng sự, 2022).
Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu cho thấy SKTT của TTN có diễn biến phức tạp với nhiều biểu hiện và mức độ khác nhau, đồng thời chịu tác động đan xen của nhiều yếu tố cá nhân, gia đình, nhà trường và môi trường xã hội, do đó việc nhận diện các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa quan trọng đối với phòng ngừa, phát hiện sớm và hỗ trợ SKTT cho TTN.
3. Các yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên qua kết quả nghiên cứu
3.1. Các yếu tố từ phía bản thân thanh thiếu niên
Những suy nghĩ, quan niệm tiêu cực về bản thân
Những suy nghĩ, quan niệm tiêu cực trước hết thể hiện ở sự cô lập cảm xúc của chính TTN. Đây là một mối nguy cơ đáng kể. Một số trẻ cho biết không muốn chia sẻ cảm xúc với ai khác hoặc không thích “tìm đến ai cả”, đặc biệt là không chia sẻ các vấn đề và rắc rối trong gia đình với bạn bè hoặc các thành viên trong gia đình mở rộng. Tiếp theo là những lo ngại về ngoại hình bản thân và một số khác là do bạn bè hoặc người lớn trêu chọc, nhận xét. Những lo ngại bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn đầu của lứa tuổi vị thành niên, đặc biệt ở những em gái có lo lắng về chu kỳ kinh nguyệt hoặc những em bị coi là thừa cân béo phì (UNICEF, ODI, 2017).
Tiếp cận công nghệ hiện đại và những nguy cơ của các hành vi trực tuyến gây nghiện
Tiếp cận công nghệ hiện đại đặt ra một nguy cơ đối với SKTT của TTN bởi TTN có xu hướng “sử dụng quá nhiều”. Các nguy cơ trên không gian mạng đối thanh thiếu niên khá đa dạng, phức tạp, như các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra bao gồm:
Nguy cơ tiếp cận thông tin xấu, độc hại trên không gian mạng (thông tin mang tính phản cảm, kích động, bạo lực, gợi dục, sai sự thật…).
Nguy cơ bị vi phạm quyền bí mật đời tư cá nhân: 16,8% TTN được hỏi đã từng bị ai đó tìm cách lấy trộm mật khẩu tài khoản mạng xã hội; 15,4% đã từng bị làm giả trang thông tin cá nhân trên mạng xã hội với mục đích xấu. 7,5% đã từng bị phát tán, lan truyền những bí mật riêng tư lên mạng xã hội (Nguyễn Tuấn Dũng, 2019).
Nguy cơ bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín: 15,5% TTN được hỏi đã từng bị chế diễu, trêu chọc vì những điểm xấu trên hình ảnh mà mình đăng tải trên internet; 12,9% đã từng bị châm chọc, đả kích trên mạng xã hội; 12,4% đã từng bị gửi tin nhắn đe doạ, trêu chọc với nội dung ác ý trên mạng xã hội; 11,8% đã từng bị chia sẻ những tin đồn không đúng sự thật về mình để người khác cùng đọc (Nguyễn Tuấn Dũng, 2019).
Nguy cơ bị vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh của mình: 10,1% TTN được hỏi đã từng bị ghép, chế ảnh trái phép trên mạng xã hội với mục đích xấu (Nguyễn Tuấn Dũng, 2019).
Nguy cơ bị bắt nạt trực tuyến: từ năm 2015 đến 2018, các chuyên gia đến từ trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã có 10 nghiên cứu về bắt nạt trực tuyến, khảo sát trên 5.000 học sinh, giáo viên, chuyên gia. Kết quả cho thấy 24% học sinh THCS và THPT tham gia khảo sát là nạn nhân của ít nhất một hình thức bắt nạt trên mạng. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu khảo sát, phân tích thực hiện trên 864 học sinh THCS và THPT năm 2018 trên địa bàn Hà Nội, Nghệ An và Thanh Hóa của nhóm nghiên cứu cũng cho thấy, có 30,6% học sinh bị bắt nạt trực tuyến bởi ít nhất một hành vi ở mức 2 lần trở lên (trích dẫn từ Đại học Giáo dục, 2019). Kết quả phân tích dữ liệu của Bùi Phương Thanh (2019) cho thấy, học sinh bị bắt nạt nhiều nhất là trên mạng xã hội Facebook, tiếp đến là các ứng dụng nhắn tin như Zalo, Viber; các trang chia sẻ hình ảnh, video clip qua Youtube, Instagram. Các hành vi bị bắt nạt trực tuyến là gửi các bình luận đe dọa, gây tổn thương thông qua email hoặc tin nhắn; gửi những tin nhắn đe dọa, gây tổn thương; gây hiểu lầm bằng cách giả vờ là người giới tính khác; chế nhạo người khác trong các nhóm diễn đàn… Riêng với TTN ở lứa tuổi phổ thông trung học, nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Hạnh (2017) cho thấy có 67,1% học sinh được hỏi đã từng bị bắt nạt trực tuyến ở mức độ khác nhau, trong đó 22,1% ở mức hiếm khi, 28,4% ở mức thỉnh thoảng, 7,7% ở mức thường xuyên và 9% ở mức rất thường xuyên.
Các biểu hiện bị bắt nạt trực tuyến xuất hiện ở các mức độ khác nhau trong TTN bao gồm: “bị gọi bằng biệt danh xấu trong các bình luận trên mạng” (35,1%, trong đó ở mức thường xuyên trở lên chiếm 6,3%), “bị nhận xét tiêu cực trên mạng xã hội” (34,6%, trong đó ở mức thường xuyên trở lên chiếm 2,9%), “bị nhóm bạn trên mạng loại bạn ra và không cho bạn tham gia vào nhóm đó nữa” (34,7%, trong đó ở mức thường xuyên trở lên chiếm 3,9%, “bị gửi những hình ảnh hoặc video có nội dung tiêu cực (bạo lực, tình dục,…) qua tin nhắn” (36,6%, trong đó ở mức thường xuyên trở lên chiếm 6,7%, “bị chặn tài khoản, hủy kết bạn,lảng tránh không nói chuyện trên mạng (40,4%, trong đó ở mức thường xuyên trở lên chiếm 6,8%) (Nguyễn Tuấn Dũng, 2019). Có thể thấy, tỷ lệ TTN đang gặp phải các vấn đề về bắt nạt trực tuyến tuy xảy ra với tần suất thường xuyên trở lên thấp (dao động từ 2,9 – 6,8%, tương ứng với khoảng 46 – 108 thanh thiếu niên/1600 thanh thiếu niên) nhưng lại là điều rất đáng quan tâm.
Tình trạng bắt nạt tuy xảy ra trên không gian ảo nhưng sẽ để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, ở những TTN bị bắt nạt có tương quan thuận ở mức thấp giữa các vấn đề về cảm xúc như stress, lo âu, trầm cảm và các vấn đề về hành vi như tăng động, khả năng kiểm soát kém và tính khí bất thường với việc bị bắt nạt (Nguyễn Thị Bích Hạnh, 2017; Nguyễn Tuấn Dũng, 2019; UNICEF, 2021b). Một số ít TTN càng bị bắt nạt nhiều thì càng cảm thấy stress, lo âu và thậm chí là có triệu chứng của trầm cảm (Nguyễn Tuấn Dũng, 2019). Kết quả này cho thấy, việc bị bắt nạt dù là trên thế giới ảo nhưng lại có ảnh hưởng thực đến tâm lý của TTN. Đồng thời, ở một số TTN có biểu hiện tăng động, khả năng kiểm soát kém hoặc bất thường cũng có nguy cơ cao trong việc trở thành đối tượng để bắt nạt. Đối với những TTN bị bắt nạt bằng lời trên mạng, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Dũng (2019) cũng cho thấy có mối tương quan thuận giữa stress, lo âu, trầm cảm, tăng động, khả năng tự kiểm soát kém và tính khí bất thường với việc bị bắt nạt. Ngoài ra, một số nghiên cứu khác còn cho thấy các nạn nhân của bắt nạt trực tuyến có nguy cơ sử dụng rượu bia, ma túy và trốn học cao hơn các thanh thiếu niên khác. Các em còn có khả năng bị điểm kém, cảm thấy tự ti về bản thân và gặp các vấn đề về sức khỏe cao hơn. Trong những trường hợp nghiêm trọng, bắt nạt trực tuyến còn dẫn đến tự tử (UNICEF, 2021b).
Nguy cơ bị xâm hại tình dục: theo kết quả khảo sát “Những trải nghiệm không mong muốn khi sử dụng Internet” do Trung tâm Sáng kiến Sức khoẻ và Dân số (CCIHP) và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thực hiện năm 2014, gần 36,5% số trẻ trải nghiệm các thông tin, hình ảnh liên quan đến bạo lực; hơn 13% buộc phải tiếp xúc không mong muốn với tài liệu khiêu dâm; gần 16% trẻ gặp hành vi dụ dỗ tình dục qua mạng. Trong khi đó, 2% trẻ em nhận được yêu cầu tiết lộ thông tin cá nhân, hình ảnh không mong muốn (Lệ Thu, 2018). Việc bóc lột tình dục trẻ em qua internet trở nên phổ biến đến nỗi nó được cho là đã trở thành “một vấn đề nghiêm trọng” (ECPAT, 2010). Nghiên cứu của ECPAT International và World Vision cho thấy, ở Đông Nam Á tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, sử dụng internet như một phương tiện giao tiếp với trẻ em và dụ dỗ trẻ em để xâm hại tình dục ngày càng nhiều (ECPAT, World Vision, 2014).
Các nghiên cứu về xâm hại tình dục trẻ em trực tuyến của UNICEF và ChildFund tại Việt Nam những năm qua cho thấy một bộ phận trẻ em đã bị chia sẻ những hình ảnh khiêu dâm qua điện thoại di động hoặc internet. Ngoài ra, các hình thức xâm hại tình dục trẻ em trực tuyến khác cũng được báo cáo nêu ra bao gồm: “phô diễn cơ thể”, “trò chuyện tình dục” (UNICEF, 2011). 49,0% trẻ em được hỏi nói rằng các em đã được tiếp xúc với các nội dung khiêu dâm trên mạng, phổ biến nhất là vô tình xem một cửa sổ hiển thị tự động trong khi đang làm một việc khác trên mạng (UNICEF, 2013).74% trẻ em và trẻ vị thành niên ở Việt Nam tin rằng các em có nguy cơ bị xâm hại tình dục hoặc bị lợi dụng trên mạng (ChildFund, 2016).
Kết quả nghiên cứu của Bùi Phương Thanh (2019) cho thấy, một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên (13,5%-23,8%) đã từng gặp phải những vấn đề về xâm hại tình dục như: kẻ xấu nhắn tin, gửi những hình ảnh, đường link liên quan đến các bộ phận nhạy cảm của cơ thể (23,8%); nhắn tin, gửi những video nhạy cảm (20,2%); dụ dỗ, ép phô bày các bộ phận cơ thể qua webcam (13,5%).
Có thể khẳng định những nguy cơ trên không gian mạng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến SKTT của nạn nhân.
3.2. Các yếu tố từ phía gia đình
Trình độ học vấn, nhận thức của cha mẹ
Sự thiếu hiểu biết của cha mẹ về SKTT là một yếu tố nguy cơ đối với các vấn đề SKTT của học sinh. Cha mẹ thiếu kiến thức về các vấn đề SKTT thông thường và sự phát triển bình thường của trẻ sẽ khiến cho nguy cơ trẻ gặp các vấn đề về SKTT cao hơn (UNICEF, 2021a).
Đáng chú ý, dữ liệu từ các nghiên cứu trước đây cho thấy các bậc cha mẹ có trình độ học vấn thấp, tức là những người chưa tốt nghiệp bậc học phổ thông, gây áp lực cho con cái họ nhiều hơn những bậc cha mẹ có trình độ tốt nghiệp và sau tốt nghiệp bậc học phổ thông. Trong một nghiên cứu liên quan đến ý định tự tử được thực hiện đối với 200 em gái, Le (2009) phát hiện rằng trình độ học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ có liên quan đến ý định tự tử ở trẻ em. Đa số trẻ em được hỏi có ý nghĩ tự tử (xấp xỉ 79%) sống trong những gia đình có cha mẹ có học vấn thấp (dẫn theo UNICEF, ODI, 2017).
Hoàn cảnh kinh tế gia đình
Có thể nói, tỷ lệ rối loạn lo âu ở TTN có xu hướng tăng khi họ thuộc các gia đình có hoàn cảnh kinh tế xã hội thấp (Goodman, E., Ewen, B. S., Dolan, L. M., Schafer- Kalkhoff , T., & Adler, N. A., 2005). Trong các nghiên cứu từ các nước có thu nhập thấp và trung bình, các tác giả cũng đã xác nhận mối liên quan giữa các chỉ số về nghèo đói và nguy cơ mắc các rối loạn tâm thần ở TTN (Patel, V., Flisher, A.J., Hetrick, S. and McGorry, P., 2007).
Thực tế, những người thuộc các tầng lớp xã hội trung lưu hoặc thấp hơn thường mong muốn con mình học giỏi bởi họ coi đây là con đường duy nhất để có được một vị trí danh giá trong xã hội. Do vậy, sự lo lắng, căng thẳng, áp lực trong học tập của TTN thuộc các gia đình có điều kiện kinh tế thấp kém nhiều hơn, trong khi các vấn đề này ở TTN thuộc các gia đình có điều kiện kinh tế khá giả lại ít hơn, một phần có thể là do tương lai của họ được đảm bảo về mặt vật chất. Trong nhiều trường hợp, trẻ cảm thấy cha mẹ chọn cho mình một con đường sự nghiệp khác với con đường mà trẻ tự chọn cho bản thân (UNICEF, ODI, 2017). Điều này hoặc là tạo nên thái độ chấp nhận miễn cưỡng hoặc là hình thành những bất đồng quan điểm, mâu thuẫn, xung đột với cha mẹ. Yếu tố nguy cơ này dần sẽ dần hình thành các vấn đề về SKTT kéo dài ở trẻ vị thành niên.
Mối liên hệ giữa những thiếu thốn về nguồn lực tài chính với những áp lực trong học tập cũng được vị thành niên đề cập đến, đặc biệt có em cảm thấy căng thẳng khi không thể tham gia các lớp học thêm vào năm chuyển cấp như các bạn khác do điều kiện kinh tế gia đình không cho phép. Đặc biệt, nhìn về tương lai xa hơn, một số trẻ bày tỏ cảm giác cực kỳ căng thẳng khi biết không thể hiện thực hóa giấc mơ của mình do “hoàn cảnh tài chính của gia đình” hoặc không thể tham gia vào các hoạt động ở trường học do chi phí tốn kém (UNICEF, ODI, 2017).
Mặc dù vẫn có một số ít nghiên cứu cho kết quả là các gia đình có điều kiện kinh tế cao hơn có tỉ lệ trẻ mắc các triệu chứng tăng động, giảm chú ý (ADHD) cao hơn (Weiss và cộng sự, 2014) song nhìn chung, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng gia đình có thu nhập thấp là một yếu tố nguy cơ và làm tăng khả năng có các vấn đề SKTT ở vị thành niên.
Áp lực của cha mẹ đối với con cái
Áp lực của cha mẹ đối với kết quả học tập tốt hơn được cho là nguyên nhân chủ yếu gây ra căng thẳng trong học tập ở 66,0% học sinh được hỏi. Nhiều bậc cha mẹ chỉ trích con mình khi so sánh thành tích của con sau này với thành tích của bạn học tốt nhất trong lớp. Kết quả là, thay vì tình bạn, trẻ vị thành niên lại nảy sinh cảm giác ganh đua giữa các bạn cùng lớp. Một số phụ huynh thậm chí có xu hướng hạ thấp thành tích của người dẫn đầu lớp bằng cách nói với con rằng bạn đó có thể được giáo viên ưu ái (Mukherjee Pandey, J., 2010a). Hoặc có cha mẹ đặt kỳ vọng cao vào trẻ, muốn các em học lên đại học và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, “mắng” các em khi các em không đạt được những kỳ vọng đó (UNICEF, ODI, 2017). Có những trường hợp học sinh bị phụ huynh thúc ép phải ‘giỏi nhất’ trong các giờ học nghệ thuật hoặc âm nhạc, một số học sinh không thể đối phó với những đòi hỏi đó nữa và suy sụp tinh thần khi căng thẳng cao độ. Khi không ngừng bị thúc đẩy để có thành tích tốt hơn trong cả học tập và hoạt động ngoại khóa, một số trẻ phát triển các rối loạn thần kinh có nguồn gốc sâu xa thời thơ ấu (Mukherjee Pandey, J., 2010b).
Thực tế, cha mẹ tạo áp lực buộc con cái phải thành công vì họ quan tâm đến phúc lợi của con cái và áp lực của họ về sự cạnh tranh để con được nhận vào các trường có uy tín. Ngoài ra, tình trạng thất nghiệp nói chung cũng khiến các bậc cha mẹ dễ tạo áp lực để con cái có thành tích tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ hội tham gia thị trường lao động sau này. Hay một số cha mẹ mong muốn thực hiện những ước mơ chưa thành của họ thông qua con cái… Tất cả những điều này đã tạo nên một mục tiêu bình thường cho TTN khiến các em phải đối phó với các yêu cầu của nhà trường cũng như của gia sư. Hơn một nửa số phụ huynh được hỏi thuê ba đến bốn gia sư riêng hoặc thậm chí nhiều hơn cho con học tốt theo các cách của họ. Vào những ngày không phải học và làm bài tập chính khóa, vị thành niên lại phải tham gia các bài học nghệ thuật hoặc âm nhạc do vậy hầu như không có thời gian để giải trí, thư giãn như xem TV, chơi đùa, tương tác với hàng xóm một cách thoải mái hoặc thậm chí ngủ đủ giấc (Varma, P. K., 1998).
Các hành vi bạo lực, bạo hành trong gia đình
Một yếu tố khác cũng có tác động đến các vấn đề SKTT ở tuổi vị thành niên là sự tiếp xúc với các hành vi ngược đãi và bạo hành trong gia đình. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng vấn đề ngược đãi và bạo hành ở trẻ em Việt Nam là vấn đề đáng quan tâm. Điều tra các chỉ số mục tiêu phát triển bền vững về trẻ em và phụ nữ của Việt Nam gần đây (2020 – 2021) cho thấy 69% trẻ em 10-14 tuổi từng bị kỷ luật bạo lực từ cha mẹ trong tháng trước đó và trẻ em trai có nhiều khả năng bị trừng phạt bạo lực hơn trẻ em gái. Một cuộc khảo sát trên 2.591 trẻ vị thành niên Việt Nam từ 12-18 tuổi (Nguyen và cộng sự, 2010) cho thấy 39% trẻ vị thành niên cho biết đã từng bị bạo hành cảm xúc, 47% cho biết đã từng bị bạo hành thể xác, gần 20% cho biết đã từng bị bạo hành tình dục và 29% báo cáo rằng họ đã từng bị bỏ mặc từ người thân trong gia đình. Nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ bỏ mặc và lạm dụng cảm xúc cao hơn ở trẻ em gái và tỉ lệ lạm dụng thân thể cao hơn ở trẻ em trai. Tương tự, Akmatov (2011) cho thấy hơn 55% trẻ vị thành niên ở Việt Nam từng bị bạo hành thể chất ở mức độ vừa phải do cha mẹ gây ra, với 29% TTN cho biết đã bị lạm dụng thể chất nghiêm trọng. Trẻ em trai cũng có tỉ lệ lạm dụng thân thể cao hơn trong nghiên cứu này. Các hộ gia đình nhiều thành viên hơn với tình trạng kinh tế nghèo hơn có liên quan đến tỉ lệ lạm dụng trẻ cao hơn.
Các nghiên cứu cũng chỉ rằng bị bắt nạt trong thời thơ ấu tiềm ẩn những tác động tiêu cực lâu dài, bao gồm trầm cảm khi trưởng thành, suy nghĩ tự tử và tự làm hại bản thân (Sigurdson, Undheim, Wallander, Lydersen, & Sund, 2015). Các nghiên cứu trước đây ở trẻ vị thành niên đã cho thấy mối tương quan tích cực giữa việc bị bắt nạt và các triệu chứng lo lắng, trầm cảm và suy nghĩ tự tử (Bhui, Silva, Harding, & Stansfeld, 2017). Do đó, nghiên cứu bao gồm cả bắt nạt trên mạng có thể phản ánh kết quả toàn diện hơn về tác động của bắt nạt đối với SKTT của TTN.
Sự giám sát của cha mẹ đối với các hoạt động của con cái
Sự giám sát hiệu quả của cha mẹ đã được chứng minh là làm giảm các hành vi có vấn đề ở TTN, bao gồm cả việc bắt đầu quan hệ tình dục sớm, hút thuốc và sử dụng cần sa và hành vi tình dục không an toàn (Coley và cộng sự, 2009; Stanton và cộng sự, 2004). Ngược lại, mức độ giám sát của cha mẹ thấp có liên quan đến việc gia tăng mức độ hành vi phạm pháp, hút thuốc, sử dụng rượu và ma túy, và các hành vi tình dục không an toàn (Caldwell và cộng sự, 2006 ; Dick và cộng sự, 2007; DiClemente và cộng sự, 2001). Giám sát của cha mẹ được cho là để giảm thiểu hành vi không an toàn của trẻ vị thành niên bằng cách hạn chế cơ hội cho TTN tham gia vào các hành vi này (bao gồm cả việc tiếp xúc với những người bạn cùng tham gia vào các hành vi này) và tạo ra một môi trường trong đó có áp lực để TTN tuân thủ các kỳ vọng của cha mẹ (Sieverding và cộng sự, 2005). Nhận thức về các hành vi không lành mạnh của bạn bè đồng trang lứa làm tăng khả năng TTN tham gia vào các hoạt động tương tự (Arnett, 2007). Ví dụ, TTN nhận thấy bạn bè của họ đang sử dụng rượu/ma túy và quan hệ tình dục sẽ tham gia vào những hành vi này thường xuyên hơn những trẻ không nhận thấy bạn bè của họ đang làm như vậy (Aseltine, 1995; Romer & Stanton, 2003).
3.3. Các yếu tố từ phía trường học
Nghiên cứu của Resknick và cộng sự (1997) cho thấy mối liên hệ giữa học sinh với nhà trường tốt thì học sinh ít có rối loạn về cảm xúc, suy nghĩ tự tử, bạo lực, lạm dụng thuốc và hành vi tình dục. Tuy vậy, các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến SKTT của TTN đến từ trường học khá đa dạng, được các nghiên cứu đề cập đến bao gồm:
Mối quan hệ giữa nhà trường, giáo viên và học sinh, sinh viên
Mối quan hệ bạn bè, thầy cô là vấn đề rất quan trọng trong giao tiếp ứng xử của TTN. Trong trường học thường hình thành những nhóm học sinh chơi với nhau do hợp tính cách nhưng cũng có những nhóm trẻ con nhà giàu có điều kiện thì chơi với nhau, đua nhau khoe khoang, phô trương những vật dụng cá nhân, ăn mặc, tiêu xài… Sự phân nhóm này dẫn đến tình trạng phân biệt giàu nghèo khiến các trẻ em nhà nghèo thường mặc cảm tự ti, không dám tiếp xúc hoặc ở chiều ngược lại có xu hướng đua đòi, bắt chước theo dẫn đến những hành vi xấu, lệch lạc (Nguyễn Duy Hiệp, 2021).
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, mối quan hệ giữa học sinh và thầy cô có sự cách biệt, thầy giảng, trò nghe, chép không có sự khuyến khích sáng tạo, trao đổi thảo luận để trẻ có thể bộc lộ các cảm xúc của mình, điều này dẫn đến tình trạng học sinh chây ì, không phát huy được khả năng mà luôn thụ động dựa vào bài giảng của giáo viên. Nhìn chung, mức độ gắn kết và kết nối với giáo viên ở trường khá thấp. Học sinh thường không cảm thấy thoải mái khi đến gặp giáo viên để được hỗ trợ về mặt học tập hoặc xã hội. Sự giao tiếp kém giữa giáo viên và trẻ vị thành niên có tác động tiêu cực đến SKTT của trẻ vị thành niên, góp phần gây ra lòng tự trọng thấp, cảm giác buồn, cô đơn và ý nghĩ tự tử (SAVY I, SAVY II, 2009; UNICEF, ODI, 2017; Le và cộng sự, 2018; Nguyễn Duy Hiệp, 2021; UNICEF, 2021a). Trẻ vị thành niên cảm thấy gắn bó với trường học của mình ít có xu hướng báo cáo các triệu chứng tâm lý hơn (Phương và cộng sự, 2013). Ngoài ra, mâu thuẫn của học sinh với giáo viên hoặc các cán bộ khác trong trường là yếu tố nguy cơ dẫn đến trầm cảm, trong khi lạm dụng thể chất và tình cảm từ giáo viên hoặc các cán bộ khác trong trường có thể dẫn đến lo âu (Nguyen và cộng sự, 2013).
Có thể nói, các rào cản chính trong việc cải thiện mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh bao gồm việc giáo viên thiếu thời gian và hỗ trợ hành chính. Những học sinh cảm thấy ít gắn kết với trường học (ví dụ, ít kết nối với giáo viên hơn) có tỉ lệ các vấn đề SKTT cao hơn. Đáng chú ý, trẻ em gái báo cáo cảm thấy ít gắn kết với trường học hơn so với trẻ em trai (UNICEF, 2021a).
Ngoài ra sự quan tâm của nhà trường đến điều kiện sức chăm sóc sức khỏe học sinh cũng là yếu tố rất quan trọng. Vai trò của y tế trường học không thể thiếu trong việc chăm sóc SKTT học sinh (Nguyễn Duy Hiệp, 2021).
Hành vi bắt nạt, xâm hại trong môi trường học đường
Bắt nạt là một yếu tố nguy cơ nghiêm trọng đối với các vấn đề SKTT và sự phát triển toàn diện của TTN. Không phải lúc nào giáo viên cũng nhận ra tác động tiêu cực của việc bắt nạt học sinh (UNICEF, 2021a). Bắt nạt học đường thường xảy ra dưới dạng trẻ bị trêu chọc, đôi khi bị đánh hoặc bị bắt cung cấp tiền, thường là do trẻ lớn hơn thực hiện. Trẻ em trai bị đánh nhiều hơn và trẻ em gái bị trêu chọc nhiều hơn. Lý do trêu chọc bao gồm chế giễu về chiều cao, về việc “như đàn ông” (rõ ràng có ảnh hưởng đến các em gái), về việc ít giao tiếp xã hội, trầm tính và không có bạn, về việc giữ vị trí lãnh đạo trong lớp và phải báo cáo giáo viên về hành vi của người khác (UNICEF, ODI, 2017).
Cùng với bắt nạt, mâu thuẫn với bạn bè như bị “nói xấu sau lưng”,“bị các bạn hiểu lầm” và “bị cô lập” dẫn đến cảm thấy buồn, không trò chuyện với các bạn, giận và không thể tin tưởng vào bạn bè. Trong một vài trường hợp, trẻ em đặc biệt là các em gái bị xúc phạm bởi những lời lẽ lăng mạ, việc bị “nói xấu” sau lưng hoặc bị là chủ đề đàm tiếu là một yếu tố nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến tự tử. Nhiều trẻ cho biết cảm thấy buồn khi bạn bè nóng nảy với nhau hoặc sử dụng ngôn ngữ tục tĩu và “những từ kinh khủng” đối với bản thân (UNICEF, ODI, 2017).
Áp lực học tập và chương trình giáo dục
Ngoài vấn đề bắt nạt, các nghiên cứu hiện tại tập trung vào căng thẳng do áp lực trong môi trường học đường. Nhiều nghiên cứu trước đây đã chứng minh mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa căng thẳng của vị thành niên với kết quả học tập ở trường, căng thẳng khi tương tác với giáo viên và các vấn đề SKTT (Byrne, Davenport, & Mazanov, 2007). Trong một đánh giá có hệ thống của 33 nghiên cứu, căng thẳng liên quan đến trường học trong thời gian dài được phát hiện có liên quan đến sự gia tăng các vấn đề SKTT (Lillejord, Børte, Ruud, & Morgan, 2017).
Các nghiên cứu SKTT tại Việt Nam cũng cho thấy có mối liên quan giữa trầm cảm, lo lắng của học sinh với thành tích học tập, cụ thể thành tích học tập trong học kì trước càng thấp thì học sinh có nguy cơ lo lắng và trầm cảm càng cao (Quynh, H. H. N, 2009).
Mặc dù các biện pháp kỷ luật trong trường học là khác nhau, nhưng sự trừng phạt thân thể được thực hiện ở hầu hết các trường học. Lo lắng là một chứng rối loạn xuất hiện ở khoảng 8% trẻ em và TTN trên toàn thế giới (Bernstein, G. A., & Borchardt, C. M., 1991, Boyd, C. P., Kostanski, M., Gullone, E., Ollendick, T. H., & Shek, D. T. L., 2000). Vẫn còn một tỷ lệ lớn hơn ở trẻ em và TTN bị chẩn đoán lo lắng do bản chất nội tại của các triệu chứng (Tomb, M., & Hunter, L., 2004). Lo lắng có những tác động tiêu cực đáng kể đến sự thành công trong xã hội, tình cảm và học tập của trẻ em (Essau, C. A., Conradt, J., & Petermann, F., 2000).
Trầm cảm đang trở thành vấn đề SKTT phổ biến nhất ở nhiều sinh viên đại học ngày nay (Arehart-Treichel, J. 2002). Vấn đề này có thể gây ra bởi khả năng giải quyết vấn đề xã hội kém, nhận thức sai lệch và xung đột gia đình ở sinh viên (Becker- Weidman, E. G., Reinecke, M. A., Jacobs, R. H., Martinovich, Z., Silva, S. G., & March, J. S., 2009), cũng như với sự xa lánh của cha mẹ và sự phân biệt đối xử từ giáo viên (Smith, M., Calam, R., & Bolton, C., 2009).
Các vấn đề SKTT ở trẻ em và TTN có thể đề cập đến như: lo lắng, thường xuyên bỏ học, ám ảnh sợ hãi, phàn nàn về thể chất, cáu kỉnh, khóc lóc và giảm hứng thú với việc học ở trường (Rangaswamy, K., 1982; Verma, S. Sharma, D., & Larson, R. W., 2002). Cả giáo viên và phụ huynh đều gia tăng áp lực học tập khiến trẻ em mất hứng thú học tập (Shah, B., 1991). Các bác sĩ tâm thần đã bày tỏ lo ngại về sự xuất hiện của áp lực giáo dục như một nguồn căng thẳng nghiêm trọng đối với học sinh đang đi học – có nguy cơ gây ra tỷ lệ tử vong do tự tử cao (D’Mello, P., 1997). Giá trị bản thân của học sinh chủ yếu được xác định bởi kết quả học tập tốt, chứ không phải do năng lực và/hoặc các phẩm chất cá nhân khác (Varma, P. K., 1998). Các bậc cha mẹ cho biết họ đã loại bỏ các kết nối cáp TV của họ và đồng thời cắt giảm cuộc sống xã hội của riêng họ để theo dõi bài tập về nhà của con cái họ (The Tribune, 1999). Vì căng thẳng học hành và thất bại trong thi cử dẫn đến hiện tượng học sinh tự tử (Crime in India, 2008) – đặt ra câu hỏi về tác động của áp lực trong trường học đối với đời sống của những người trẻ tuổi và ảnh hưởng đến SKTT của họ (Ganesh, M. P., & Magdalin, S., 2007).
Nhìn chung, TTN hiện nay phải chịu một áp lực nặng nề từ chương trình giáo dục. Nội dung chương trình quá tải, áp lực thi cử nặng nề làm cho trẻ em lúc nào cũng căng thẳng, lo sợ, dẫn đến những rối loạn về cả thế xác lẫn tâm thần. Vấn đề học thêm với chính thầy cô ở trường cũng khiến trẻ phải học ngày học đêm nên không có thời gian nghỉ ngơi, giải trí, luyện tập thân thể. Điều này dẫn đến những hành vi bất thường, tác hại lâu dài đến SKTT của trẻ (UNICEF, 2021a).
3.4. Các yếu tố từ phía môi trường xã hội
Khu vực sinh sống và mối quan hệ xã hội
Khu vực sinh sống và các mối quan hệ xã hội cũng góp phần ảnh hưởng đến tình trạng SKTT ở TTN. Kết quả điều tra SAVY năm 2009 cho thấy mối liên quan giữa hành vi tự gây thương tích ở TTN có sự khác nhau giữa các vùng miền (SAVY II, 2009). Nghiên cứu tại Hà Nội của Nguyễn Thanh Hương và cộng sự (2009) cũng chỉ ra học sinh nội thành có mức trầm cảm, lo âu cao hơn ngoại thành. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu trên cùng một thang đo ở những khu vực khác nhau cũng cho thấy tỉ lệ có vấn đề về SKTT khác nhau (Đặng Hoàng Minh, 2012). Nghiên cứu của Ananda Amstadter ở Đà Nẵng và Khánh Hoà cho thấy TTN có mối quan hệ xã hội tốt thì khả năng có vấn đề về SKTT giảm (Amstadter A., et al., 2011).
Đại dịch COVID-19
Nhóm TTN vốn đã có các vấn đề đặc thù về sức khỏe tâm thần lại có nguy cơ cao đối mặt với các vấn đề SKTT liên quan đến đại dịch COVID-19. Căng thẳng liên tục liên quan đến lo sợ bị lây nhiễm bệnh, cô lập xã hội và việc đi học bị gián đoạn đã gây ra những tổn hại tâm lý đáng kể đến SKTT của TTN (UNICEF, 2021a). Việc đóng cửa trường học và học trực tuyến có tác động lớn nhất đến sự phát triển toàn diện và kết quả học tập của học sinh. Các kết quả chỉ ra rằng thanh thiếu niên có nguy cơ tiếp xúc với các nội dung độc hại trên không gian mạng hoặc bị nghiện mạng xã hội do thời gian học trực tuyến tăng lên. TTN cũng được tiếp xúc với một lượng lớn tin tức COVID-19, khiến các em cảm thấy sợ hãi và lo lắng. Các em chia sẻ về những cảm giác buồn bã và trầm cảm, cũng như lo âu xã hội sau thời gian xa cách bạn bè và cuộc sống xã hội. Các em nữ đặc biệt có nguy cơ suy nghĩ tiêu cực về hình ảnh cơ thể. Các em cũng đề cập đến việc cha mẹ lo lắng về chất lượng của việc học trực tuyến và do đó bắt các em học nhiều hơn. Điều này cũng thường dẫn đến căng thẳng trong gia đình (Samuels, Ho, Nguyen và cộng sự, 2021).
Vấn đề người thân mắc và tử vong do COVID-19cũng gây ra căng thẳng sang chấn cho nhiều trẻ em và TTN trên khắp thế giới (UNICEF, 2021a). Cùng với đó là cảm giác bất an, không chắc chắn, thiếu lịch sinh hoạt hàng ngày nhất quán, không được tiếp cận với các dịch vụ y tế khiến người trẻ có nguy cơ gặp khó khăn về tâm lý xã hội. Jones, Mitra, & Bhuiyan (2021) đã tiến hành đánh giá hệ thống 16 nghiên cứu định lượng được thực hiện trong năm 2019-2021 với 40.076 người tham gia. Nhóm TTN thuộc các hoàn cảnh khác nhau đang có tỉ lệ lo lắng, trầm cảm và căng thẳng cao hơn trong thời gian đại dịch. TTN cũng có tần suất sử dụng rượu và cần sa cao hơn trong đại dịch COVID-19.
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng sau khi khỏi bệnh, SKTT của người nhiễm bị ảnh hưởng không nhỏ bởi những nỗi lo về việc không có người chăm sóc, sợ cô đơn, sợ bị mất việc làm, bị mất hoặc cắt giảm các nguồn trợ cấp xã hội, thậm chí là nỗi lo sợ mơ hồ vì không biết điều gì sẽ đến phía trước. Những băn khoăn, lo lắng đó có thể dẫn đến những hành vi tiêu cực như: cáu gắt, mất ngủ, lạm dụng việc cầu nguyện, cắt giảm khẩu phần ăn để tiết kiệm thậm chí là tự cách li mình khỏi môi trường xã hội để đảm bảo an toàn (Paul Bukuluki và các cộng sự, 2021).
4. Kết luận
SKTT của TTN là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân và chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai. Qua tổng hợp các kết quả nghiên cứu cho thấy, TTN đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về sức khỏe tâm thần, trong đó nổi bật là các biểu hiện căng thẳng, lo âu, trầm cảm và khó khăn về cảm xúc, hành vi. Các vấn đề này không xuất hiện từ một nguyên nhân đơn lẻ mà là kết quả của sự tác động đan xen giữa nhiều yếu tố nguy cơ ở cấp độ cá nhân, gia đình, nhà trường và môi trường xã hội.
Các nghiên cứu cũng cho thấy một số yếu tố nguy cơ đáng chú ý như áp lực học tập, mối quan hệ gia đình và bạn bè, trải nghiệm bạo lực, điều kiện kinh tế – xã hội, môi trường học đường và việc sử dụng internet, mạng xã hội. Điều này cho thấy chăm sóc SKTT cho TTN cần được tiếp cận theo hướng toàn diện, dựa trên phòng ngừa và phát hiện sớm, thay vì chỉ tập trung vào can thiệp khi vấn đề đã trở nên nghiêm trọng.
Trên cơ sở đó, cần có sự tăng cường sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường, các cơ sở y tế, tổ chức xã hội và cộng đồng trong nâng cao nhận thức, phát hiện sớm và hỗ trợ SKTT cho TTN. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh các nghiên cứu có quy mô và phương pháp phù hợp để cung cấp bằng chứng tin cậy, góp phần xây dựng các chương trình và chính sách chăm sóc SKTT đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của TTN trong bối cảnh hiện nay.
Tài liệu tham khảo
- Akmatov, R. P. (2011). Child abuse in 28 developing and transitional countries. Child Abuse & Neglect, 35(2), 57–68
- Amstadter, A. B., Richardson, L., Meyer, A., Sawyer, G., Kilpatrick, D. G., Tran, T. L., Trung, L. T., Tam, N. T., Tuan, T., Buoi, L. T., Ha, T. T., Thach, T. D., Gaboury, M., & Acierno, R. (2011), Prevalence and correlates of probable adolescent mental health problems reported by parents in Vietnam, Social Psychiatry and Psychiatric Epidemiology, số 46(2), trang 95–100, DOI: 10.1007/s00127-009-0172-8
- Arehart-Treichel, J. (2002). Depression: The campus epidemic. Psychiatric News, 37(14), 22-23.DOI: 10.1176/pn.37.14.0022
- Arnett, J. J. (2007). Suffering, selfish, slackers? Myths and reality about emerging adults. American Psychologist, 62(2), 68–79
- Aseltine, R. H., Jr (1995), A reconsideration of parental and peer influences on adolescent deviance, Journal of Health and Social Behavior, 36(2), 103–121, DOI: 10.2307/2137219
- Becker-Weidman, E. G., Reinecke, M. A., Jacobs, R. H., Martinovich, Z., Silva, S. G., & March, J. S. (2009). Predictors of treatment outcome in the Treatment for Adolescents with Depression Study (TADS). Journal of Consulting and Clinical Psychology, 77(2), 266-277.DOI: 10.1037/a0014382
- Bernstein, G. A., & Borchardt, C. M. (1991). Anxiety disorders of childhood and adolescence: A review of the past 10 years. Journal of the American Academy of Child & Adolescent Psychiatry, 30(4), 519-532. DOI: 10.1097/00004583-199107000-00001
- Bhui, K., Silva, M. J., Harding, S., & Stansfeld, S.(2017). Bullying, social support, and psychological distress: Findings from RELACHS cohorts of east London’s white British and Bangladeshi adolescents. Journal of Adolescent Health, 61(3), 317–328.
- Boyd, C. P., Kostanski, M., Gullone, E., Ollendick, T. H., & Shek, D. T. L. (2000). Prevalence of anxiety and depression in Australian adolescents. Journal of Genetic Psychology, 161(4), 467-478. DOI: 10.1080/00221320009596726
- Bùi Phương Thanh (2019), Vấn đề xâm hại trẻ em trên môi trường mạng ở Việt Nam hiện nay – hình thức, nguy cơ và giải pháp phòng ngừa, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ
- 11. Byrne, D. G., Davenport, S. C., & Mazanov, J. (2007). Profiles of adolescent stress: The development of the adolescent stress questionnaire (ASQ). Journal of Adolescence, 30 (3), 393–416
- Campbell, O. L. K., Bann, D., & Patalay, P. (2021). The gender gap in adolescent mental health: A crossnational investigation of 566,829 adolescents across 73 countries. SSM – Population Health, 13, 100742. https://doi.org/10.1016/j.ssmph.2021.100742
- Childfund (2016), Youth Online. Internet Access and Social media use among youth in Vietnam
- Đại học Giáo dục (2019), Hội thảo khoa học “Chương trình can thiệp bắt nạt trực tuyến dựa vào trường học”
- 15. Đặng Hoàng Minh (chủ biên), Bahr Weiss, Nguyễn Cao Minh, Sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam: Thực trạng và các yếu tố nguy cơ
- DiClemente, R. J., Wingood, G. M., Crosby, R., Sionean, C., Cobb, B. K., et al. (2001). Parental monitoring: Association with adolescents’ risk behaviors. Pediatrics, 107(6), 1363–1368
- ECPAT (2010), Sử dụng Công nghệ thông tin để kết nối với các trường hợp về xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch ở Đông Á và Đông Nam Á
- ECPAT, World Vision (2014), Sex, abuse and childhood. A sstudy about knowledge, stttitudies and practices relating to chil sexual abuse, including in travel and tourism in Cambodia, Lao PDR, Thailand and Vietnam
- Essau, C. A., Conradt, J., & Petermann, F. (2000). Frequency, comorbidity, and psychosocial impairment of anxiety disorders in German adolescents. Journal of Anxiety Disorders, 14(3), 263-279.DOI: 10.1016/S0887-6185(00)00022-3
- Ganesh, M. P., & Magdalin, S. (2007). Perceived school environment and mental health of adolescent students. Journal of the Indian Academy of Applied Psychology, 33(2), 245–252
- Goodman, E., Ewen, B. S., Dolan, L. M., Schafer- Kalkhoff , T., & Adler, N. A., 2005, Social disadvantage and adolescent stress. Journal of Adolescent Health, 37(6), 494-492
- https://doi.org/10.1017/gmh.2017.34
- Jones, E. A. K., Mitra, A. K., & Bhuiyan, A. R. (2021). Impact of COVID-19 on Mental Health in Adolescents: A Systematic Review. International Journal of Environmental Research and Public Health, 18(5), 2470.
- La, T. T. T., Dinh, H. V. T., Phan, M. H. T., Do, L. H. T., Nguyen, P. H. T., & Nguyen, Q. A. N. (2020). Mental health among Vietnamese urban late adolescents: The association of parenting styles. Health Psychology Open, 7(2), 205510292094873. https://doi.org/10.1177/2055102920948738
- Lệ Thu (2018), Phụ huynh ít có thời gian và kiến thức để bảo vệ trẻ trên môi trường mạng, Tạp chí điện tử Dân trí, https://dantri.com.vn/giao-duc-huong-nghiep/phu-huynh-it-co-thoi-gian-va-kien-thuc-de-bao-ve-tre-tren-moi-truong-mang-20180713075815515.htm
- Le, M. T. H., Holton, S., Kirkman, M., & Fisher, J. (2018). “I feel that life is meaningless”: Vietnamese adolescents’ experiences of and reflections about interpersonal violence. Global Mental Health, 5.
- Marion Felder, James M. Kauffman, Dimitris Anastasiou, , Joao Lopes, Betty A. Hallenbeck, Garry Hornby, Bernd Ahrbeck, Trends and Issues Involving Disabilities in Higher Education, 2(1), 1–15, DOI 10.3390/higheredu2010001, https://www.mdpi.com/2813-4346/2/1/1
- Mukherjee Pandey, J., (2010a), July 10, Schools Junk Ranks in Pre-board Tests. The Times of India, Kolkata
- Mukherjee Pandey, J., (2010b), July 12, Kids driven to breaking point. Pushed by parents to be all rounders, the perform-or-perish pressure on school kids is turning them into nervous wrecks. The Times of India, Kolkata
- National Crime Records Bureau. (2009). Crime in India 2008. Ministry of Home Affairs, Government of India
- Nguyễn Duy Hiệp (2021), Nghiên cứu những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của học sinh THPT, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
- Nguyễn Thanh Hương và cộng sự (2009). Sức khỏe tâm lý và các yếu tố liên quan của học sinh trung học cơ sở tại Hà Nội. (Dữ liệu khảo sát sức khỏe tâm thần vị thành niên tại các trường THCS nội và ngoại thành Hà Nội)
- Nguyễn Thị Bích Hạnh (2017), Mối liên hệ giữa các vấn đề sức khỏe tâm thần và bắt nạt trực tuyến ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ
- Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2023), Nhu cầu tiếp cận các dịch vụ tư vấn sức khỏe và sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên sau đại dịch COVID-19, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ
- Nguyễn Tuấn Dũng (2019), Điều tra ảnh hưởng từ mạng xã hội đến nguy cơ bạo lực và sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cơ sở
- Nguyen, D. T., Dedding, C., Pham, T. T., Wright, P., & Bunders, J. (2013). Depression, anxiety, and suicidal ideation among Vietnamese secondary school students and proposed solutions: a cross-sectional study. BMC Public Health, 13(1), 1195. http://doi. org/10.1186/1471-2458-13-1195
- Nguyen, H. T., Dunne, M. P., & Le, A. V. (2010). Multiple types of child maltreatment and adolescent mental health in Viet Nam. Bulletin of the World Health Organization, 88(1), 22–30. doi.org
- NIMH (Mental Illness. National Institute of Mental Health) (2022). Accessed December 24, 2022. https://www.nimh.nih.gov/health/statistics/mental-illness
- Patel, V., & Kleinman, A., (2003), Poverty and common ental disorders in developing countries. Bulletin of the World Health Organization, 81(8), 609-615
- Patel, V., Flisher, A.J., Hetrick, S. and McGorry, P. (2007), Mental health of young people: a global public- health challeng, Lancet 369(9569): 1302-1313
- Paul Bukuluki và các cộng sự (2021), Care leavers’ experiences of COVID-19 in Uganda and Ghana: Implications for their mental health and psychosocial wellbeing, trong sách Mental Health Effects of COVID-19 (Nhà xuất bản Academic Press / ScienceDirect
- Phuong, T. B., Huong, N. T., Tien, T. Q., Chi, H. K., & Dunne, M. P. (2013). Factors associated with health risk behavior among school children in urban Vietnam. Global Health Action, 6(1), 18876. https://doi.org/10.3402/gha.v6i0.18876
- Polanczyk GV, Salum GA, Sugaya LS, Caye A, Rohde LA (2015), Annual research review: A meta-analysis of the worldwide prevalence of mental disorders in children and adolescents. J Child Psychol Psychiatry. 2015;56(3):345-365. doi:10.1111/jcpp.12381
- Quynh, H. H. N. (2009). Exploring the mental health of Public Health and Nursing students in Ho Chi Minh City, Vietnam [Master’s thesis, Queensland University of Technology]. QUT Digital Repository
- Rangaswamy, K. (1982). Mental health problems in school-going children. Journal of Psychological Researches, 26(2), 94–99
- Samuels, F., Ho, H., Nguyen, P., Vu, V., Le, L., Dang, H-M., Plank, G., Leon-Himmelstine, C., & Pellini, A. (2021). ‘We feel sad and bored’: Covid-19 impacts on mental health of adolescents in Viet Nam. ODI Country Study. London: ODI
- 47. SAVY I (2003), Điều tra quốc gia về sức khỏe sinh sản & sức khỏe tình dục của thanh thiếu niên Việt Nam
- 48. SAVY II (2009), Điều tra quốc gia về sức khỏe sinh sản & sức khỏe tình dục của thanh thiếu niên Việt Nam
- Shah, B. (1991). Determinants of educational stagnation and school dropout among adolescents. Indian Psychological Review, 36(4), 18–25
D’Mello, P. (1997). Educational strain and psychiatric morbidity among Indian high school students. The Indian Journal of Psychiatry, 39(2), 112–118 - Sigurdson, J. F., Undheim, A. M., Wallander, J. L., Lydersen, S., & Sund, A. M.(2015). The long-term effects of being bullied or a bully in adolescence on externalizing and internalizing mental health problems in adulthood. Child and Adolescent Psychiatry and Mental Health, 9(1), 42
- Smith, M., Calam, R., & Bolton, C. (2009). Psychological indicators of emotional and behavioural difficulties in children and adolescents. Clinical Child Psychology and Psychiatry, 14(3), 433-448.DOI: 10.1177/1359104509104047
- The Tribune. (1999, April 14). Exam fever grips parents and children alike. The Tribune (Chandigarh), 3
- Tomb, M., & Hunter, L. (2004). Advocacy for school mental health: International perspectives. School Psychology International, 25(3), 295-307.DOI: 10.1177/0143034304044816
- UNICEF (2011), Báo cáo phân tích về bóc lột tình dục trẻ em vì mục đích thương mại tại một số tỉnh thành phố của Việt Nam
- UNICEF (2013), Youth of Vietnam Online. An Exporatory study of the Vietnamese Digital Landscape
- UNICEF (2019). Adolescent health dashboards country profiles. https://data.unicef.org/resources/ adolescent-health-dashboards-country-profiles/
- UNICEF (2021a), Nghiên cứu toàn diện về các yếu tố liên quan đến trường học ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và sự phát triển toàn diện của trẻ em nam và nữ vị thành niên tại Việt Nam
- UNICEF (2021b), Mạng xã hội có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên?, https://www.unicef.org/vietnam/vi/nh%E1%BB%AFng-c%C3%A2u-chuy%E1%BB%87n/m%E1%BA%A1ng-x%C3%A3-h%E1%BB%99i-c%C3%B3-%E1%BA%A3nh-h%C6%B0%E1%BB%9Fng-x%E1%BA%A5u-%C4%91%E1%BA%BFn-s%E1%BB%A9c-kh%E1%BB%8Fe-t%C3%A2m-th%E1%BA%A7n-c%E1%BB%A7a-thanh-thi%E1%BA%BFu-ni%C3%Aan
- UNICEF, ODI (Overseas Development Institute) (2017), Sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh niên tại một số tỉnh và thành phố ở Việt Nam
- Varma, P. K. (1998). The great Indian middle class. Viking
- Varma, P. K., 1998, The great Indian middle class. New Delhi: Penguin
- Verma, S., Sharma, D., & Larson, R. W. (2002). School stress in India: Effects on time and daily emotions. International Journal of Behavioral Development, 26(6), 500–508
- V-NAMHS (2022) (Viện Xã hội học, Đại học Queensland, và Trường Y tế Công cộng Bloomberg Đại học Johns Hopkins), Điều tra Sức khỏe Tâm thần Vị thành niên Việt Nam: Báo cáo Kết quả chủ yếu. Hà Nội, Việt Nam: Viện Xã hội học
- Weiss, Bahr, Minh Dang, Trung Lam, Minh Cao Nguyen, Tam Hong Thuy Nguyen, and Amie Pollack. (2014), A Nationally Representative Epidemiological and Risk Factor Assessment of Child Mental Health in Viet Nam, International Perspectives in Psychology: Research, Practice, Consultation 3 (3): 139–53. doi:10.1037/ipp0000016
- Weiss, Minh Dang, Trung Lam, Minh Cao Nguyen, Tam Hong Thuy Nguyen, Bahr, Amie Pollack. (2014). A Nationally Representative Epidemiological and Risk Factor Assessment of Child Mental Health in Viet Nam, International Perspectives in Psychology: Research, Practice, Consultation 3 (3): 139–53. doi:10.1037/ipp0000016
- WHO (2025). Mental health of adolescents. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/adolescent-mental-health
[1] Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam