Việt Nam đang có tốc độ già hóa dân số thuộc hàng nhanh nhất thế giới, đặt ra áp lực lớn lên hệ thống y tế và an sinh xã hội. Trước bối cảnh đó, Luật Dân số đưa ra các giải pháp thích ứng với già hóa dân số, chủ động thích ứng cho tuổi già, đồng thời mở ra định hướng phát triển kinh tế bạc.

Ảnh minh họa: Trước thách thức già hóa dân số, dự luật bổ sung các giải pháp hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi
Tốc độ già hóa nhanh kỷ lục
Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011. Theo số liệu mới nhất từ Cục Thống kê, hiện nay cả nước có khoảng 16,1 triệu người cao tuổi, chiếm trên 16% dân số. Dự báo đến năm 2036, Việt Nam sẽ chuyển từ giai đoạn “già hóa” sang “dân số già”, với tỷ lệ người cao tuổi tăng lên khoảng 20%.
Điều đáng lo ngại nhất không phải là việc dân số già đi, mà là tốc độ chuyển đổi diễn ra quá nhanh. Trong khi các nước phát triển như Pháp, Thụy Điển mất hàng chục năm, thậm chí cả thế kỷ để chuyển đổi mô hình dân số, Việt Nam chỉ mất khoảng 20-25 năm. Để hình dung rõ hơn về áp lực này, hãy nhìn vào kinh nghiệm quốc tế. Pháp mất 115 năm để chuyển từ giai đoạn già hóa sang dân số già, Thụy Điển mất 85 năm, Mỹ mất 69 năm. Quỹ thời gian dài giúp các quốc gia này có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về hạ tầng an sinh và tích lũy tài chính. Ngược lại, Việt Nam đang ở mức thu nhập trung bình thấp nhưng đã phải đối mặt với bài toán an sinh của các nước phát triển.
Quỹ thời gian quá ngắn khiến Việt Nam đối mặt với nguy cơ hiện hữu: “già trước khi giàu”. Hệ thống an sinh xã hội, tích lũy tài chính của người dân và cơ sở hạ tầng y tế chưa kịp chuẩn bị đầy đủ để đón nhận làn sóng này.
Gánh nặng bệnh tật kép và áp lực lên hệ thống y tế lúc này đã được đặt ra. Già hóa dân số kéo theo sự thay đổi căn bản về mô hình bệnh tật. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng lên 74,7 tuổi nhưng số năm sống khỏe mạnh lại thấp (chỉ khoảng 65 tuổi). Trung bình mỗi người cao tuổi Việt Nam có 10 năm bệnh tật với khoảng 3-6 bệnh nền mạn tính đồng thời như tim mạch, đái tháo đường, xương khớp,…
Hệ thống y tế hiện nay vốn được thiết kế chủ yếu để đối phó với các bệnh truyền nhiễm và cấp tính, đang bị quá tải trước nhu cầu chăm sóc dài hạn và phức tạp của người cao tuổi. Mặc dù tỷ lệ người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế cao (đạt 95%), nhưng khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chuyên biệt (lão khoa, phục hồi chức năng, chăm sóc giảm nhẹ) vẫn còn hạn chế, đặc biệt là ở tuyến cơ sở. Chi phí y tế cho người già cao gấp 7-10 lần so với trẻ em, tạo ra áp lực tài chính lớn cho cả gia đình và ngân sách nhà nước.
Đặc biệt, mô hình gia đình truyền thống đang thay đổi nhanh chóng. Xu hướng gia đình hạt nhân (chỉ có cha mẹ và con cái) ngày càng phổ biến, khiến mô hình “tam đại đồng đường” (ba thế hệ sống chung) giảm dần. Điều này đồng nghĩa với việc chức năng chăm sóc người già của gia đình đang suy giảm, đặt ra nhu cầu cấp thiết về các dịch vụ chăm sóc xã hội hóa chuyên nghiệp.
Phát triển “Kinh tế bạc”: Biến thách thức thành cơ hội
Ông Nguyễn Thanh Bình (Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam) cho biết, hiện nước ta có một lực lượng người cao tuổi tham gia tích cực vào tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng mở, tiếp cận sâu rộng với kinh tế thị trường, bắt nhịp với sự tiến bộ của khoa học – công nghệ. Cả nước có hơn 9 triệu người cao tuổi đang tích cực tham gia lao động, sản xuất, kinh doanh; nhiều người cao tuổi được Đảng, Nhà nước vinh danh là Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới…

Ảnh minh họa: Già hóa dân số là xu hướng chung của thế giới và là điều tất yếu trong một xã hội phát triển, đồng thời là minh chứng cho thành tựu phát triển KT-XH, y tế và kiểm soát bệnh tật.
Đây chính là khái niệm “Cổ tức trường thọ” (Longevity Dividend) mà thế giới đang hướng tới. Nhóm người cao tuổi trẻ (60-69 tuổi) vẫn còn sức khỏe tốt, trí tuệ minh mẫn và kinh nghiệm dày dặn. Nếu có cơ chế linh hoạt về tuổi nghỉ hưu hoặc các hình thức làm việc bán thời gian, tư vấn chuyên gia, chúng ta sẽ tận dụng được nguồn “vốn con người” quý giá này, giảm áp lực thiếu hụt lao động khi dân số trong độ tuổi lao động bắt đầu giảm
Thay vì nhìn nhận già hóa dân số chỉ là gánh nặng, các chuyên gia đã đề xuấttư duy đột phá: Coi người cao tuổi là nguồn lực và thị trường tiêu dùng tiềm năng, hay còn gọi là phát triển “Kinh tế bạc”.
Với hơn 16 triệu người và tiếp tục tăng nhanh, người cao tuổi là nhóm khách hàng lớn cho các sản phẩm và dịch vụ đặc thù. Thị trường “kinh tế bạc” bao gồm: chăm sóc sức khỏe, thực phẩm chức năng, du lịch nghỉ dưỡng, công nghệ hỗ trợ sinh hoạt, nhà ở thông minh,bảo hiểm nhân thọ… Tiềm năng này mở ra cơ hội lớn cho cộng đồng doanh nghiệp. Ví dụ, lĩnh vực bất động sản dưỡng lão hay du lịch nghỉ dưỡng kết hợp trị liệu đang là xu hướng mới. Công nghệ số cũng không đứng ngoài cuộc với các ứng dụng theo dõi sức khỏe từ xa, nhà thông minh hỗ trợ người già sống độc lập. Đây là mảnh đất màu mỡ cho khu vực tư nhân đầu tư, vừa giải quyết vấn đề xã hội, vừa tạo ra lợi nhuận kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng GDP
Luật Dân số: Giải pháp căn cơ để thích ứng với già hóa dân số và phát triển bền vững
Luật Dân số vừa được Quốc Hội thông qua là công cụ pháp lý quan trọng nhất để Việt Nam giải quyết bài toán già hóa dân số một cách tổng thể, chuyển từ tư duy “kế hoạch hóa gia đình” sang “dân số và phát triển”.
- Thích ứng với già hóa dân số bằng cách chủ động chuẩn bị cho tuổi già; Chăm sóc người cao tuổi; Phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi; Các biện pháp phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi theo quy định của pháp luật về người cao tuổi, pháp luật khác có liên quan; Các biện pháp thích ứng với già hóa dân số khác theo quy định của pháp luật có liên quan; chiến lược, quy định, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phat triển kinh tế-xã hội.
- Duy trì mức sinh thay thế là giải pháp giảm tốc độ già hóa: Một điểm nhấn quan trọng trong dự thảo Luật Dân số là mối liên hệ mật thiết giữa mức sinh và già hóa. Mức sinh giảm sâu chính là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy tốc độ già hóa dân số nhanh hơn và làm suy giảm nguồn nhân lực trẻ trong tương lai. Do đó, duy trì mức sinh thay thế (2,1 con/phụ nữ) được xác định là giải pháp gốc để làm chậm lại quá trình già hóa, giúp Việt Nam có thêm thời gian để chuẩn bị hạ tầng thích ứng.
Luật Dân số đã đưa ra các biện pháp để duy trì mức sinh thay thế: Tăng thời gian nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai: Phụ nữ được nghỉ thêm 01 tháng theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật này; nam giới được nghỉ thêm 05 ngày làm việc khi vợ sinh con theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật này; Hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người; phụ nữ ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có mức sinh thấp dưới mức sinh thay thế; Hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi; Hỗ trợ tài chính hằng tháng cho trẻ đến đủ 12 tháng tuổi; Ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở đối với phụ nữ sinh từ 02 con trở lên.
Việc duy trì mức sinh hợp lý sẽ giúp cân bằng lại tháp dân số, bổ sung lực lượng lao động kế cận, từ đó giảm bớt tỷ lệ phụ thuộc và gánh nặng lên hệ thống an sinh xã hội đang phải “gồng mình” lo cho người già.
- Nâng cao chất lượng dân số từ đầu đời: Để giảm gánh nặng bệnh tật cho người cao tuổi trong tương lai, Luật Dân số chú trọng các biện pháp nâng cao chất lượng dân số ngay từ giai đoạn tiền hôn nhân và sơ sinh. Các quy định về tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn; sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh sẽ giúp tạo ra những thế hệ khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, là tiền đề cho một tuổi già khỏe mạnh, ít bệnh tật. Đầu tư cho chất lượng dân số đầu đời chính là đầu tư cho tuổi già khỏe mạnh. Một em bé sinh ra khỏe mạnh, được chăm sóc dinh dưỡng tốt sẽ giảm nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm khi về già, từ đó giảm chi phí y tế cho xã hội trong dài hạn.
Thích ứng với già hóa dân số không phải là câu chuyện của tương lai xa xôi mà là nhiệm vụ cấp bách ngay lúc này. Việc ban hành Luật Dân số với các chính sách đột phá về thích ứng già hóa và duy trì mức sinh thay thế là bước đi chiến lược để đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
Chủ động chuẩn bị cho tuổi già, thích ứng với già hóa dân số, không coi già hóa là “gánh nặng” mà là cơ hội phát triển “kinh tế bạc”, và “duy trì mức sinh hợp lý” được coi là mục tiêu chiến lược sẽ giúp Việt Nam giải quyết hài hòa bài toán dân số. Đây là cơ sở để chúng ta vừa đảm bảo an sinh, chăm sóc tốt nhất cho người cao tuổi – những người đã cống hiến cả đời cho đất nước – vừa tạo động lực tăng trưởng mới, đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao cho khát vọng thịnh vượng của dân tộc đến năm 2045.
ANH TÚ